Lê Anh Nhật
03-08-2007, 10:05 PM
Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết TƯ5 (khóa IX) kinh tế Tuyên Quang phát triển, theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, từng bước chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hóa; cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư; văn hóa-xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân các dân tộc không ngừng được cải thiện, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt trên 11%. Tổng giá trị GDP năm 2006 đạt hơn 2.517 tỷ đồng, tăng 71% so với năm 2001, trong đó tỷ trọng ngành công nghiệp chiếm 30,3%, tăng 8,66% so với năm 2001.
Về sản xuất nông, lâm nghiệp, tỉnh đã tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, bước đầu hình thành một số vùng sản xuất tập trung chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích; Đẩy mạnh thâm canh, sử dụng nhiều giống mới có năng suất cao nên sản lượng thực hàng năm đều tăng, năm 2006 tổng sản lượng lương thực đạt 30,75 vạn tấn, tăng 3,71 vạn tấn so với năm 2001.
Đối với nông thôn, tỉnh Tuyên Quang đã ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, cơ chế liên doanh trồng rừng; chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, khuyến khích phát triển tiểu, thủ công nghiệp và làng nghề, thực hiện chính sách tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng; ưu tiên đầu tư công nghiệp chế biến nông, lâm sản, vật liệu xây dựng để thu hút và điều chỉnh cơ cấu lao động trong nông thôn.
Đến nay, tỉnh đã hoàn thành quy hoạch 23 trung tâm cụm xã trên địa bàn, từng bước thực hiện đầu tư để làm hạt nhân, động lực phát triển cho các cụm xã. Huy động mọi nguồn lực đầu tư, nâng cấp, quản lý và sử dụng có hiệu quả trên 2.300 công trình thủy lợi, xây dựng kiên cố 880 km kênh mương gắn với quy hoạch đồng ruộng và đường giao thông nội đồng; Ứng dụng có hiệu quả một số tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, góp phần chuyển đổi cơ cấu và tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, đầu tư thiết bị công nghệ tiên tiến trong một số cơ sở sản xuất công nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm, như việc khảo nghiệm, chọn lọc và giống lúa thuần khang dân 18, lúa thuần DT122, lúa lai nhị ưu 63; nhân giống mía bằng phương pháp nuôi cấy mô; ứng dụng công nghệ sinh học nhân giống keo lai bằng phương pháp nuôi cấy mô…
Điều đáng mừng cho người nông dân, những năm qua tỉnh đã thực hiện việc giảm các khoản phải đóng góp, như mức thu thủy lợi phí đã điều chỉnh theo hướng có lợi cho người sản xuất.
Việc thực hiện CNH, HĐH nông thôn đã tạo ra những tiền đề cơ bản, hình thành nền tảng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ cho nhân dân nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, học hành và phát triển sản xuất kinh doanh, đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh không ngừng được cải thiện và nâng lên. Sản lượng lương thực quy thóc bình quân đầu người tăng từ 382 kg năm 2001 lên 420 kg năm 2006.
Ngoài ra, Tuyên Quang còn đầu tư cho cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống của nông dân không ngừng được hoàn thiện, như: hệ thống công trình thủy lợi, giao thông, điện, nước sạch nông thôn… tạo điều kiện cho sản xuất nông lâm nghiệp phát triển và cải thiện đáng kể điều kiện sinh hoạt của nông dân. Sự phát triển giáo dục và đào tạo có bước phát triển, các bậc học, ngành học. Hệ thống trường, lớp được mở rộng, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Tỉnh duy trì và giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS. Số học sinh giỏi đạt giải trong các kỳ thi quốc gia hàng năm ngày càng tăng. Đội ngũ giáo viên đủ về số lượng và cơ bản được chuẩn hóa về trình độ chuyên môn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học từng bước được đầu tư.
Mặt khác, Tuyên Quang tập trung xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa, xã hội và phát triển nguồn nhân lực. Toàn tỉnh đã xây dựng 1.658 nhà văn hóa thôn, bản; hoạt động của hệ thống nhà văn hóa bước đầu đi vào nề nếp. Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn xây dựng quy ước, 78,5% gia đình trong tỉnh đạt danh hiệu gia đình văn hóa, 72% thôn, bản đạt danh hiệu thôn, bản văn hóa.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Tuyên Quang còn một số hạn chế cần khắc phục như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn chậm. Các vùng kinh tế trọng điểm chưa hình thành để phát huy có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương; Chậm xây dựng, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, vùng để phát huy lợi thế của tỉnh. Sản xuất nông, lâm nghiệp còn manh mún, phân tán; chưa tạo được sản phẩm hàng hóa nông nghiệp có giá trị cao; Việc xây dựng, phát triển các mô hình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế; Một số chương trình phát triển kinh tế của Tuyên Quang chưa mang lại hiệu quả kinh tế như: chương trình chăn nuôi bò sữa, bò thịt cao sản theo hướng tập trung; chương trình trồng cây ăn quả… Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp chưa xứng với tiềm năng; tỷ trọng ngành công nghiệp-xây dựng trong cơ cấu GDP thấp; việc huy động các nguồn lực đầu tư phát triển công nghiệp hạn chế; các dự án công nghiệp quy mô đầu tư còn nhỏ, tiến độ đầu tư chậm, chưa tiếp cận được công nghệ tiên tiến. Đặc biệt, việc phát triển công nghiệp nông thôn và tốc độ cơ khí hóa trong sản xuất nông, lâm nghiệp chậm.
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, tỉnh Tuyên Quang đã đề ra nhiệm vụ, mục tiêu trọng tâm trong những năm tới là tiếp tục đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; tạo điều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch; phấn đấu giá trị tăng thêm trong nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt bình quân 7%/năm; Tốc độ phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn không thấp hơn mức bình quân của cả nước; Phát triển nông nghiệp, nông thôn phải hài hòa với việc xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng trong tỉnh, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội.
Với mục tiêu nêu trên, Tuyên Quang đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện như: Triển khai thực hiện tốt Chương trình giảm nghèo của tỉnh giai đoạn 2006-2010; Đề án xóa nhà ở tạm, nhà dột nát. Tiếp tục thực hiện quy hoạch, bố trí lại dân cư khu vực nông thôn và công tác di dân ra khỏi vùng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ xung yếu và vùng có nguy cơ bị thiên tai nguy hiểm đến định cư tại nơi an toàn có điều kiện phát triển.
Chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có sức cạnh tranh mà thị trường đang có nhu cầu theo quy hoạch; Đẩy mạnh thâm canh các loại cây trồng với quy trình sản xuất đồng bộ và tiên tiến; quy hoạch diện tích sản xuất lương thực ổn định; Từng bước thực hiện cơ giới hóa và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm nghiệp; Có chính sách khuyến khích và hỗ trợ các thành phần kinh tế đầu tư máy, thiết bị phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với phát triển các dịch vụ về cơ khí, điện… tại nông thôn.
Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và lao động nông thôn, nhất là các vùng Nhà nước thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển công nghiệp; Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ.
(theo ĐCSVN)
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết TƯ5 (khóa IX) kinh tế Tuyên Quang phát triển, theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, từng bước chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hóa; cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư; văn hóa-xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân các dân tộc không ngừng được cải thiện, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt trên 11%. Tổng giá trị GDP năm 2006 đạt hơn 2.517 tỷ đồng, tăng 71% so với năm 2001, trong đó tỷ trọng ngành công nghiệp chiếm 30,3%, tăng 8,66% so với năm 2001.
Về sản xuất nông, lâm nghiệp, tỉnh đã tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, bước đầu hình thành một số vùng sản xuất tập trung chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích; Đẩy mạnh thâm canh, sử dụng nhiều giống mới có năng suất cao nên sản lượng thực hàng năm đều tăng, năm 2006 tổng sản lượng lương thực đạt 30,75 vạn tấn, tăng 3,71 vạn tấn so với năm 2001.
Đối với nông thôn, tỉnh Tuyên Quang đã ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, cơ chế liên doanh trồng rừng; chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, khuyến khích phát triển tiểu, thủ công nghiệp và làng nghề, thực hiện chính sách tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng; ưu tiên đầu tư công nghiệp chế biến nông, lâm sản, vật liệu xây dựng để thu hút và điều chỉnh cơ cấu lao động trong nông thôn.
Đến nay, tỉnh đã hoàn thành quy hoạch 23 trung tâm cụm xã trên địa bàn, từng bước thực hiện đầu tư để làm hạt nhân, động lực phát triển cho các cụm xã. Huy động mọi nguồn lực đầu tư, nâng cấp, quản lý và sử dụng có hiệu quả trên 2.300 công trình thủy lợi, xây dựng kiên cố 880 km kênh mương gắn với quy hoạch đồng ruộng và đường giao thông nội đồng; Ứng dụng có hiệu quả một số tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, góp phần chuyển đổi cơ cấu và tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, đầu tư thiết bị công nghệ tiên tiến trong một số cơ sở sản xuất công nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm, như việc khảo nghiệm, chọn lọc và giống lúa thuần khang dân 18, lúa thuần DT122, lúa lai nhị ưu 63; nhân giống mía bằng phương pháp nuôi cấy mô; ứng dụng công nghệ sinh học nhân giống keo lai bằng phương pháp nuôi cấy mô…
Điều đáng mừng cho người nông dân, những năm qua tỉnh đã thực hiện việc giảm các khoản phải đóng góp, như mức thu thủy lợi phí đã điều chỉnh theo hướng có lợi cho người sản xuất.
Việc thực hiện CNH, HĐH nông thôn đã tạo ra những tiền đề cơ bản, hình thành nền tảng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ cho nhân dân nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, học hành và phát triển sản xuất kinh doanh, đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh không ngừng được cải thiện và nâng lên. Sản lượng lương thực quy thóc bình quân đầu người tăng từ 382 kg năm 2001 lên 420 kg năm 2006.
Ngoài ra, Tuyên Quang còn đầu tư cho cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời sống của nông dân không ngừng được hoàn thiện, như: hệ thống công trình thủy lợi, giao thông, điện, nước sạch nông thôn… tạo điều kiện cho sản xuất nông lâm nghiệp phát triển và cải thiện đáng kể điều kiện sinh hoạt của nông dân. Sự phát triển giáo dục và đào tạo có bước phát triển, các bậc học, ngành học. Hệ thống trường, lớp được mở rộng, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Tỉnh duy trì và giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS. Số học sinh giỏi đạt giải trong các kỳ thi quốc gia hàng năm ngày càng tăng. Đội ngũ giáo viên đủ về số lượng và cơ bản được chuẩn hóa về trình độ chuyên môn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học từng bước được đầu tư.
Mặt khác, Tuyên Quang tập trung xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa, xã hội và phát triển nguồn nhân lực. Toàn tỉnh đã xây dựng 1.658 nhà văn hóa thôn, bản; hoạt động của hệ thống nhà văn hóa bước đầu đi vào nề nếp. Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn xây dựng quy ước, 78,5% gia đình trong tỉnh đạt danh hiệu gia đình văn hóa, 72% thôn, bản đạt danh hiệu thôn, bản văn hóa.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Tuyên Quang còn một số hạn chế cần khắc phục như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn chậm. Các vùng kinh tế trọng điểm chưa hình thành để phát huy có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương; Chậm xây dựng, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, vùng để phát huy lợi thế của tỉnh. Sản xuất nông, lâm nghiệp còn manh mún, phân tán; chưa tạo được sản phẩm hàng hóa nông nghiệp có giá trị cao; Việc xây dựng, phát triển các mô hình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế; Một số chương trình phát triển kinh tế của Tuyên Quang chưa mang lại hiệu quả kinh tế như: chương trình chăn nuôi bò sữa, bò thịt cao sản theo hướng tập trung; chương trình trồng cây ăn quả… Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp chưa xứng với tiềm năng; tỷ trọng ngành công nghiệp-xây dựng trong cơ cấu GDP thấp; việc huy động các nguồn lực đầu tư phát triển công nghiệp hạn chế; các dự án công nghiệp quy mô đầu tư còn nhỏ, tiến độ đầu tư chậm, chưa tiếp cận được công nghệ tiên tiến. Đặc biệt, việc phát triển công nghiệp nông thôn và tốc độ cơ khí hóa trong sản xuất nông, lâm nghiệp chậm.
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, tỉnh Tuyên Quang đã đề ra nhiệm vụ, mục tiêu trọng tâm trong những năm tới là tiếp tục đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; tạo điều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch; phấn đấu giá trị tăng thêm trong nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt bình quân 7%/năm; Tốc độ phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn không thấp hơn mức bình quân của cả nước; Phát triển nông nghiệp, nông thôn phải hài hòa với việc xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng trong tỉnh, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội.
Với mục tiêu nêu trên, Tuyên Quang đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện như: Triển khai thực hiện tốt Chương trình giảm nghèo của tỉnh giai đoạn 2006-2010; Đề án xóa nhà ở tạm, nhà dột nát. Tiếp tục thực hiện quy hoạch, bố trí lại dân cư khu vực nông thôn và công tác di dân ra khỏi vùng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ xung yếu và vùng có nguy cơ bị thiên tai nguy hiểm đến định cư tại nơi an toàn có điều kiện phát triển.
Chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có sức cạnh tranh mà thị trường đang có nhu cầu theo quy hoạch; Đẩy mạnh thâm canh các loại cây trồng với quy trình sản xuất đồng bộ và tiên tiến; quy hoạch diện tích sản xuất lương thực ổn định; Từng bước thực hiện cơ giới hóa và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm nghiệp; Có chính sách khuyến khích và hỗ trợ các thành phần kinh tế đầu tư máy, thiết bị phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với phát triển các dịch vụ về cơ khí, điện… tại nông thôn.
Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và lao động nông thôn, nhất là các vùng Nhà nước thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển công nghiệp; Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ.
(theo ĐCSVN)