PDA

View Full Version : Những câu chuyện kì bí


Mạnh Tùng
12-07-2007, 12:00 PM
Đi vào khe hở thời gian

Những năm gần đây, giới học giả chuyên nghiên cứu bí ẩn siêu nhiên ở châu Âu và Mỹ xôn xao bàn tán về các hiện tượng có liên quan đến “lỗ hổng thời gian” và sự mất tích - tái hiện một cách thần bí. Người ta cố gắng vận dụng mọi kiến thức để giải thích được những hiện tượng này.

Ngày 14/4/1912, con tàu thủy siêu cấp Titanic trong chuyến đi đầu tiên đã gặp nạn do va phải băng, khiến 1.500 người mất tích. Vậy mà vào giữa năm 1990 và 1991, tại khu vực gần núi băng Bắc Đại Tây Dương, người ta đã phát hiện và cứu sống hai nhân vật đã biến mất cùng con tàu Titanic gần 80 năm về trước.

Sự trở về của Wenni Kate

Ngày 24/9/1990, con tàu Foshogen đang đi trên vùng biển bắc Đại Tây Dương. Thuyền trưởng Karl đột nhiên phát hiện một bóng người từ vách núi. Qua kính viễn vọng, ông nhìn rõ một phụ nữ đang dùng tay ra hiệu cấp cứu. Người phụ nữ này mặc trang phục quý tộc Anh thời kỳ đầu thế kỷ 20, toàn thân ướt sũng và rét run cầm cập. Khi được cứu lên tàu, trả lời câu hỏi của thủy thủ, cô nói: “Tôi tên là Wenni Kate, 29 tuổi, một hành khách trên con tàu Titanic. Khi tàu đắm, một con sóng lớn đánh giạt tôi lên núi băng này, thật may mắn là các ngài đã kịp cứu giúp”. Nghe câu trả lời đó, mọi người đều cảm thấy hết sức kỳ lạ, không hiểu chuyện gì đã xảy ra và họ nghĩ rằng có lẽ do sốt cao, cô gái này đã nói nhảm.

Kate được đưa đến bệnh viện để kiểm tra. Sức khỏe của cô không có gì đáng ngại ngoài việc cô quá sợ hãi do bị lạc nhiều ngày, thần kinh cũng không có dấu hiệu rối loạn.

Các xét nghiệm về máu, tóc, cho thấy cô khoảng chừng 30 tuổi. Vậy là nảy sinh một vấn đề khó tin đến kinh người: chẳng lẽ Kate từ năm 1912 đến nay, trải qua gần 80 năm mà không hề già đi chút nào? Thẩm tra, đối chiếu với bản danh sách hành khách trên tàu Titanic, người ta nhận thấy mọi nội dung đều trùng khớp với những gì Kate đang nói. Trong khi mọi người đang tranh luận thì sự việc thứ hai xảy ra.

Sự trở về của thuyền trưởng Smith

Ngày 9/8/1991, một tổ khảo sát khoa học hải dương trong khi khảo sát tại khu vực phía tây nam cách một núi băng Bắc Đại Tây Dương chừng 387 km, đã phát hiện và cứu sống một người đàn ông 60 tuổi. Lúc đó người đàn ông này đang ngồi bình thản bên rìa nước. Ông ta mặc bộ quần áo màu trắng, khá gọn gàng, rít sâu điếu thuốc và rút điếu thứ hai, mắt nhìn về phía biển khơi, mặt lộ vẻ dạn dày sương gió. Không ai có thể nghĩ rằng đó chính là thuyền trưởng danh tiếng Smith của con tàu Titanic.

Nhà hải dương học nổi tiếng, tiến sĩ Marwen Iderlan, sau khi cứu được Smith đã phát biểu trước báo chí rằng không thể có sự việc nào đáng kinh ngạc hơn. Người đàn ông này không thể là tên lừa đảo, ông ta đích thực là thuyền trưởng của con tàu Titanic, người cuối cùng cùng với con tàu chìm xuống biển. Khó tin hơn nữa là Smith đến nay đã 140 tuổi nhưng trên thực tế mới chỉ là một ông già 60. Khi được cứu, ông một mực khẳng định rằng hôm đó là ngày 15/9/1912.

Sau khi được cứu, ông được đưa đến Viện tâm thần Oslo (Nauy) để chữa trị. Nhà tâm lý học Jale Halant đã tiến hành hàng loạt thử nghiệm và kết quả là Smith hoàn toàn bình thường. Ngày 18/9/1991, trong một đoạn tin vắn, Halant khẳng định người được cứu đích xác là thuyền trưởng Smith vì ngay việc đối chiếu vân tay cũng đã cho thấy điều đó.

Sự việc cần được giải thích rõ ràng. Một số cơ quan hải dương Âu - Mỹ cho rằng thuyền trưởng Smith và hành khách Kate đã bị rơi vào "hiện tượng mất tích - tái hiện xuyên thời gian”. Theo đó, một số chuyên gia phán đoán có khả năng trên biển vẫn còn một số hành khách Titanic sống sót đang chờ được cứu giúp, vì trong lịch sử cũng đã có không ít trường hợp mất tích - tái hiện một cách thần bí.

Sự mất tích của 25 lính hải quân Mỹ

Theo hồ sơ của Bộ Hải quân Mỹ, trong chiến dịch Thái Bình Dương thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2, chiến hạm Indiana Bolis của Mỹ bị tàu ngầm của Nhật đánh chìm. Lúc đó, hải quân Mỹ đã thu được tín hiệu cấp cứu của 25 binh lính và sĩ quan rời khỏi chiến hạm bằng thuyền cứu hộ. Nhưng sau nhiều lần tìm kiếm, 25 quân nhân kia vẫn bặt vô âm tín. Cuối cùng, nhà chức trách đành phải tuyên bố họ đã mất tích. Nhưng một ngày tháng 7/1991, một đội thuyền đánh cá của Philippines trên hải phận Sibis, phía nam quần đảo Philippines, đột nhiên phát hiện một chiếc thuyền cứu sinh, trên thuyền có 25 binh lính đang trong tâm trạng hoảng loạn, dù cơ thể vẫn còn cường tráng.

Phát hiện này làm cho các nhà chức trách Mỹ vô cùng kinh ngạc. Điều khó hiểu hơn cả là chiến hạm Indiana Bolis bị đánh chìm từ năm 1945, và mãi 46 năm sau đó, người ta mới thấy họ, nhưng họ không hề thay đổi so với trước kia, thậm chí cả râu, tóc… cũng không dài thêm chút nào. 25 người một mực khẳng định họ chỉ lênh đênh trên biển một ngày đêm. 46 năm tương đương với một ngày, điều gì đã xảy ra? Nhà thiên văn học, tiến sĩ Semesijians cho rằng, có khả năng họ đã bị rơi vào “lỗ hổng của thời gian”, mấy chục năm sau mới xuất hiện trở lại và hoàn toàn không biết mình đang ở thời điểm nào.

Quan điểm của các học giả

Một số người cho rằng “lỗ hổng thời gian” thực chất là “thế giới phản vật chất” đang tồn tại trong vũ trụ. Họ dựa vào công thức tổng năng lượng vật chất của Einstein, theo đó tổng năng lượng vật chất có hai trị là chính và phụ. Vậy khi trị phụ xuất hiện, chúng ta cần phải làm thế nào? Nhận thức nó ra sao? Một số học giả liền đưa nó vào mối liên hệ với “thế giới phản vật chất”. Trước mắt, chúng ta mới hiểu biết được chưa đầy một nửa vũ trụ chúng ta đang sống, là phạm vi thế giới vật chất, còn nửa kia là một hệ thống tạo thành từ phản vật chất.

Hai bộ phận này tiếp cận với nhau dưới tác động qua lại của lực hấp dẫn. Khi tiếp cận đến một mức độ nhất định, tác dụng “đổ vỡ” do thế giới vật chất và phản vật chất sinh ra sẽ tạo ra một nguồn năng lượng vô cùng lớn, tạo thành một áp lực tách đôi hai hệ thống. Theo đó, có thể thấy rằng mất tích chính là hiện tượng phát sinh khi hai hệ thống vật chất và phản vật chất tiếp cận ở mức độ cao nhất, sinh ra năng lượng tạo nên áp lực phân tách. Khi hiện tượng “đổ vỡ” kết thúc, trường lực hấp dẫn trở lại trạng thái ban đầu, hiện tượng tái hiện xảy ra.

Trong cuộc tranh cãi giữa các nhà khoa học, nhiều giả thuyết khác cũng được đưa ra. Một trong số đó là thuyết Thời gian đứng lại. Thế giới vật chất sau khi tiến vào “lỗ hổng thời gian” đồng nghĩa với việc mất tích, và từ đó đi ra cũng có nghĩa là được tái hiện. Như vậy, “lỗ hổng thời gian” và trái đất không cùng một hệ thống, và thời gian trong "lỗ hổng" là tương đối tĩnh. Do đó dù có mất tích 3-5 hay vài chục năm đi nữa, người ta sẽ không có gì thay đổi so với lúc ban đầu.

Giả thuyết thứ hai được đưa ra là thuyết Thời gian ngược, cho rằng thời gian trong "lỗ hổng thời gian" là quay ngược so với bình thường. Người mất tích sau khi rơi vào đó có khả năng sẽ quay ngược về quá khứ. Tuy nhiên, khi thời gian quay ngược một lần nữa, người này lại được đưa trở về thời điểm họ bị mất tích, kết quả là xảy ra hiện tượng tái hiện thần bí.

Trong thuyết thứ ba Đóng cửa thời gian, “lỗ hổng thời gian” là hiện tượng tồn tại khách quan trong thế giới vật chất, không nhìn thấy và cũng không thể sờ thấy. Đối với thế giới vật chất mà con người đang tồn tại, nó vừa đóng lại vừa mở. Thỉnh thoảng khi nó mở ra một lần, kết quả là xuất hiện hiện tượng mất tích. Mở thêm một lần nữa, người mất tích tái hiện.

Trước mắt, quanh vấn đề “lỗ hổng thời gian” vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, chưa có một học thuyết nào có sức thuyết phục vì chưa đưa ra được những chứng cứ xác thực. Hiện tượng “mất tích - tái hiện” vẫn còn là bí ẩn đang chờ con người khám phá.

Trịnh Hữu Đức
12-07-2007, 02:58 PM
nghe cái này có vẻ khó tin quá...nhưng mà chắc là sự thật...
còn phần giải thick hiện tượng thì chả hiểu lgì cả:( không biết có lỗ hổng thời gian kô)

Thaiquang026
12-07-2007, 06:13 PM
Đêm chủ nhật, ngày 8/10/1871, đường phố Chicago (Mỹ) đang náo nhiệt vui vẻ thì đột nhiên một ngôi nhà ở phía đông bắc thành phố bốc cháy. Lính cứu hỏa chưa kịp phản ứng thì một ngọn lửa khác đã bủa kín nhà thờ thánh Paul. Khắp thành phố còi báo cháy hú vang...

Chicago nổi tiếng ở Mỹ vì nhiều gió nên còn được gọi là “thành phố gió”. Nay thành phố gặp lửa, tình trạng càng bi thảm hơn. Lửa mượn sức gió bốc cao dữ dội và lan nhanh khủng khiếp. Chưa đầy nửa tiếng sau, Chicago đã chìm trong biển lửa mênh mông. Dân chúng hoảng loạn chưa từng thấy, người ta nháo nhào chạy ra đường, giẫm đạp lên nhau, chen lẫn cùng đám súc vật tìm đường chạy trốn. Đám cháy khủng khiếp kéo dài tới sáng hôm sau. Hơn 17.000 ngôi nhà ở trung tâm thành phố biến thành tro bụi, hàng nghìn người tử nạn vì cháy và vì bị giày xéo.

Giải thích nguyên nhân của vụ hỏa hoạn, tờ Thời báo Chicago và một số báo lớn của Mỹ đưa tin: Do sơ suất của bà chủ, một con bò cái đã húc đổ ngọn đèn dầu gây cháy chuồng, đám cháy phát lửa từ chuồng bò đã lan khắp Chicago. Tuy nhiên, lời giải thích này bị đa số dân Chicago phản bác, họ cho rằng giới báo chí chẳng biết gì. Một vị chỉ huy trực tiếp tham gia cứu hỏa cho biết: Chỉ trong chớp mắt, thành phố đã tràn ngập trong biển lửa, do đó bảo rằng “đám cháy lan ra từ chuồng bò” là điều vô lý, đây thực sự là một trận lửa bay, chỉ có lửa bay mới nhanh đến vậy! Cả bầu trời bốc cháy, những hòn đá nóng bỏng từ trên trời trút xuống

Nhiều người dân thoát chết sau vụ hỏa hoạn cũng khẳng định: Mưa lửa là từ trên trời rơi xuống. Tập hợp lại các thông tin, cảnh sát liên bang Mỹ cho biết: Buổi tối đó, cùng với Chicago, ở các nơi như Wisconsin, Michigan, Nevada và một số vùng rừng núi, đồng cỏ phía đông Mỹ cũng có hỏa hoạn. Rõ ràng không thể là sự phát lửa bình thường. Đi tìm vật chứng cho hiện tượng lạ, người ta tìm thấy số pho tượng đá hoa cương ở trung tâm Chicago bị nung chảy; giàn giáo đỡ bằng thép của một xưởng đóng tàu đứng chơ vơ bên sông cũng bị đốt chảy ra dính vào nhau, nhiều kho sắt thép bị chảy thành đống… chứng tỏ nhiệt độ phải rất cao.

Một điều kỳ lạ nữa trong vụ đại họa của Chicago là cái chết thảm khốc của cả ngàn người dân đã chạy thoát khỏi thần lửa, ra tới được vùng ngoại ô. Giám định thi thể nạn nhân thấy cho thấy, cái chết của họ chẳng có chút gì liên quan đến lửa. Đến đây, các nhà khoa học phải vào cuộc.

Tiến sĩ W. Ximoberin, một chuyên gia lừng danh về các vụ án thiên văn đã cho rằng: “lửa đá được đem đến Chicago trong trận mưa sao băng”. Theo ông, thủ phạm của vụ này là sao chổi Bira (tên nhà thiên văn Tiệp Khắc tìm ra nó vào năm 1826). Sao chổi Bira có chu kỳ quanh mặt trời là 6,6 năm. Vào năm 1846, trong khi sạt qua trái đất, nhân Bira bị vỡ làm hai mảnh. Những quan sát tiếp theo cho thấy, đến năm 1852, hai phần nhân bị vỡ đôi kia đã cách nhau tới 2,4 triệu km để rồi mất hút trong vũ trụ. Đúng vào ngày 8/10/1871, một phần nhân sao chổi Bira lại gặp gỡ trái đất và điểm giao tiếp lần này nằm trên không phận Mỹ. Kết quả là trận mưa sao băng dữ dội đã xảy ra. Phần lớn thiên thạch bị đốt cháy khi ma sát với không khí, phần còn lại rơi ào ạt xuống mặt đất có nhiệt độ rất cao, đủ năng lực hóa lỏng sắt thép và các loại đá hoa cương. Chicago không may mắn nằm gọn trong vòng trung tâm của trận mưa lửa.

Ngoài ra, Ximoberin cũng cho rằng, trận "mưa" này do sự bốc cháy của vẩn thạch còn mang theo một lượng rất lớn khí xyanua và dioxit carbon, tạo thành các vùng “tiểu khí hậu giết người”. Điều này giải thích về việc cả nghìn người đã thoát khỏi vùng lửa, ra đến ngoại ô thành phố, song vẫn không thoát chết do ngộ độc khí đậm đặc.

Luận thuyết của Ximoberin được nhiều người quan tâm. Nhưng thực tế, đến nay người ta vẫn chưa tìm được một bằng chứng nào ủng hộ giả thuyết đó, như các mẩu thiên thạch còn sót lại, thực vật bị lửa trời thiêu đốt hay các khu đất bị ô nhiễm…

Những người bác bỏ giả thuyết của Ximoberin cho rằng, sao chổi là một “thiên thể khổng lồ nhưng rất loãng”, nhân sao chổi nếu có va quyệt vào trái đất thì cũng không thể gây tai họa vì trái đất có bầu khí quyển là tấm lá chắn rất hữu hiệu. Nếu có thiên thạch nào chưa cháy hết trong bầu khí quyển, thì khi rơi xuống bề mặt trái đất cũng không thể gây ra hỏa hoạn.

“Đám cháy Chicago” vẫn còn là một bí ẩn cho đến tận ngày nay.

Thaiquang026
12-07-2007, 06:18 PM
Thợ rừng Vai-Xơ-Man bị người chân (quái vật chân to) bắt làm tù binh. Cô gái người chân to cao hơn 2 mét co khuôn mặt tinh tinh lại rất thích Vai-Xơ-Man, luôn luôn đưa mắt nhìn anh khiến người tù binh đáng thương này dựng tóc gáy, lo lắng .

Vào một ngày hèn năm 1924, tại tỉnh Colombia Tây Nam Canada, người thợ rừng kiêm thợ mộc tên là An bec to Vai xơ man dùng thời gian nghĩ hàng năm của mình tới vùng rừng núi này để tìm mỏ vàng.

Anh hạ trại ở dải rừng Bách gần cửa rừng Tu-ba-san. Nơi đây thật yên tĩnh, phía trước là đảo Ôn-cô-va tĩnh mịch, mặt biển xanh ngắt một màu, phẳng lặng không một gợn sóng. Anh cảm thấy tâm hồn sảng khoái, gió mát nhẹ thổi, trăng treo trên bầu trờị Sau mấy ngày lặn lội vất vả, anh vội chui vào túi chăn nhanh chóng đi vào giấc ngủ.

Bỗng anh cảm thấy mình đang bị ai đó vác lên vai và di chuyển đi như vác một vao khoai tây làm anh chả biết phải làm thế nào, lo sợ cực độ. Một lát sau anh bị quẳng mạnh xuống đất và lăn xuống như củ khoaị Khi chui ra khỏi túi chăn, ngẩng đầu xem sự thể ra sao thì: Trời ơi! đứng sừng sững trước mặt anh là một quái vật cực lớn cao tới 2.4 m, có một thân hình như người gấu và khuôn mặt giống như tinh tinh, bàn chân thì cực lớn, liếc nhìn thì ít nhất cũng dài 35cm rộng 20cm. Do nghề nghiệp Vai xơ man ước lượng kích thước rất chuẩn.

"Đến vương quốc người chân to rồi!" Vai xơ man thầm nghĩ vậỵ Ddứng bên ca.nhngười bắt anh làm tù binh còn có 2 người nữ "Chân tô" và còn 1 người nhỏ bé cũng "chân to". Hai người nữ này không mặt quần áo, có đôi bầu vú cực lớn được che phủ bằng lông mầu nâụ Trong 2 người này một người già hơn một chút có lẽ là người mẹ, người kia trẻ hơn cũng có thể là con, còn người nhỏ bé "chân to" hẳn là con gái rồị "Ddây hẳn là một gia đình có 4 người", Vai xơ man nghĩ vậỵ

Sau đó, gia đình người chân to này dẫn người tù binh của họ tới một thung lũng vách đá dựng đứng và (nhốt lại) cùng ở với họ, không hề có ý định sát hạị Ddến khi ăn thì người nào ăn thức ăn của người ấỵ Cả nhà họ thì ăn chay như rễ cỏ, cỏ thơm, và các loại lá nhọn, còn Vai xơ man thì ăn đồ hộp của mình (những thứ này vẫn để sẵn trong túi chăn trước khi bị bắt).

Cứ thế, cuộc sống kéo dài khoảng 7-8 ngàỵ Nhưng trong 7-8 ngày ấy, Bai xơ man ngoài nỗi sợ hãi ra còn có một điều cảm thấy bất an. Ddó là việc cô gái chân to này có sự quan tâm đặt biệt, lúc nào cũng kè kè bên anh và đôi mắt luôn luôn nhìn vào hàm chứa tình cảm, đôi lúc lại sờ nắn nhiệt thành vào tay anh ... Về việc này cha mẹ cô gái chân to không để ý.

Vai xơ man vô cùng lo lắng vì cho rằng họ có thể muốn ta làm con rể của ho.. Những sự việc tiếp diễn thật khó mà lường trước được, càng làm anh lo sợ hơn - nếu Vai xơ man đoán đúng. Tới sáng ngày thứ 9, nhân lúc gia đình người chân to đang ngủ say, Vai xơ man lẻn trốn. Trong 3, 4 ngày trước đó, gia đình này đã hoàn toàn thả lỏng anh. Hình như họ đã thu nhận Vai xơ man vào trong gia đình họ, cho nên cảm thấy họ hoan hỉ với anh thì anh cũng nhất định sẽ hoan hỉ với ho..

Sau khi thoát khỏi vòng tay của quái vật chân to, Vai xơ man giữ kín câu chuyện này trong lòng. Anh không kể lại với bất kỳ aaaai, phần lớn vị sợ họ không tin là chuyện có thật, phần vì anh cũng xấu hổ bởi anh vừa thoát khỏi cảm làm "lang quân" của cô gái chân tọ

Thực ra, vào cái năm "gặp nạn" của Vai xơ man tức là năm 1924, ở bang Washington (Mỹ) giáp với tỉnh Colombia của Canada cũng xảy ra sự kiện, có một đoàn người khổng lồ chân to tấn công vào đội thợ mỏ. Sự kiện này được đưa lên báo vào năm ấỵ Sau này được nhà nhân chủng học nỗi tiếng, tiến sĩ Johnson Na-bít ghi vào trong sách lấy tên là "bàn chân khổng lồ' (cự cước). Vào năm 40 của thế kỷ này, ở vùng rừng rậm Tây Nam Canada và Tây Bắc nước Mỹ liên tiếp có những chuyện liên quan đến hoạt động của người có bàn chân tọ Cho tới nay, Vai xơ man mới dám thổ lộ điều "bất hạnh" ấy cho quan chức địa phương.

Tháng 10-1967, hai chàng thanh niên trẻ là Ro-ki Pô tơ sân và Pao-chi-mu vào khu vực Uy-li caton, bang Florida nước Mỹ, dùng máy quay phim màu quay được cảnh hoạt động của một người đàn bà "chân to" (đại thể không giống như người mà Vai xơ man nhìn thấy). Sau này Pô tơ sân kể lại:

"Người này đại khái cao 2.13 mét, nặng 160 kg trên người mọc đầy lông ngắn trong bóng màu nâu, ngay như ở hai bầu vú căng phồng chảy thõng cũng mọc đầy lông, tóc phủ kín trán và che cả tới lông mày... đi lại giống như người, giống như tôi với anh!"

Bức ảnh cô gái chân to mà Pô tơ sân chụp được đã làm cho rất nhiều nhà khoa học hoài nghị Như đều thừa nhận là có thực và có đôi ba phần thất kinh.

Trong cá chước tác của các nhà nghiên cứu Tây phương, quái vât. chân to được đặt tên là Sasquatch, được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giớị Ddược biết cho tới nay, toàn thế giới có khoảng trên 400 người nhiều lần nhìn thấy động vật như loại quái vật chân to và phát hiện được 2000 chân quái vật chân tọ

Vậy quá vật chân to ấy là vượn, là người hay là gấủ Giới học thật tới nay vẫn còn tranh cãi chưa đưa được kết luận.

Nhà sinh vật học cổ của Trung Quốc và chuyên gia nổi tiếng về nhân loại học Ngô Nhữ Khang cho rằng: Quái vật chân to có khả năng là đời sau của lại vượn lớn. Loài vượn lớn là loài vượn khổng lồ ở thời cổ đại xa xôi, đứng thẳng và đi lại được. Ghi chép trong các hóa thạch, xếp nó thuộc động vật gấu mèo lớn.

Có nhà nghiên cứu Tây Phương cho rằng: quái vật chân to trên thực tế là một loài người khổng lồ vẫn sống bên cạnh chúng ta, một triệu năm trước họ vẫn còn tồn tại . Tờ báo "Thái Dương" của Mexico ra ngày 25 - 12 - 1986 cho biết: phía trước Ddông thành phố Mexico phát hiện thấy một chiếc hộp sọ nguyên vẹn: cao trên 50 cm, rộng 25 cm. Răng to gấp 2.5 lần răng người trưởng thành, hiện nay dự đoán xương này của người cao khoảng 3.5 - 5 mét.

Ddầu thế kỷ 16, nhà hàng hải Bồ Ddào Nha là Mađen-lăng trong chuyến đi vòng quanh trái đất, đã tới bờ biển châu Mỹ, ngạc nhiên phát hiện thấy người Anhđdiêng "có thân hình cao tương đương 8 người bình thường", những người này đang nhảy múạ Giả sử người bình thường cao 1.65 m thì những người đang nhảy múa này cao tới 13 mét. Thật không thể ngờ được, có thể Madenlăng nói bốc lên như vậy nhưng việc ông nhìn thấy người khổng lồ thì đó là sự thực. Cuối thế kỷ 19, theo báo cáo của một học giả Tây phương thì ông phát hiện thấy bóng thấp thoáng của người khổng lồ trong rừng rậm bán đảo Mã lai, số người này đều cxao khoảng 3-4 mét trở lạị Những chiếc đòn gỗ mà họ sử dụng thì người bình thường cho dù thế nào cũng không cầm nổị Vào thập kỷ 70, một nhóm người thám hiểu cũng cho biết: Họ được người Anh điêng Pê Ru hướng đạo, khi đến vùng thượng du sông Amadôn phát hiện thấy một tốp người khổng lồ có bướu lông màu hồng đang chạy ...

Về việc này, thống đốc bang Pin xi pha ni a trong "tổ chức cộng đồng UFO" của Mỹ là Stan - chi tơn, có bài phát biểu trong hội nghị Acôton UFO năm 1974, cho biết việc tồn tại người khổng lồ hoặc là quái vật chân to tồn tại bên cạnh người hiện đại rất có khả năng là ở hậu duệ của người ngoài hành tinh cổ xưa còn lưu lại trên Trái Ddất, bởi vì:

1. Một số đặc tính sinh hoạt của quái vật chân to hoàn toàn thống nhất với hành tung của các phi hành viên đĩa bay mà loài người mô tả.

2. Từ cổ chí kim, phàm là những khu vực có người chân to hoạt động thì thường hầu như là có liên quan đến vận hành đĩa bay, truyền dẫn lên xuống, ghi chép hoặc báo cáọ

Hiện nay, ở nước Mỹ có nhiều xuất bản chuyên san là "Đại cước học báo" (báo về người có bàn chân khổng lồ). ở bang California, thậm chí dựng tượng người khổng lồ đã được nhập vào phạm trù "khoa học viễn tưởng" ở một số cơ quan nghiên cứu Âu-Mỹ giống như nghiên cứu đĩa baỵ

Thaiquang026
12-07-2007, 06:20 PM
Trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại, thì Kim Tự Tháp Ai Cập được xếp hàng đầụ Trong quần thể Kim Tự Tháp Ai Cập thì đứng đầu lại là lăng mộ của quốc vương Đệ Tứ - Kim Tự Tháp Khê Ốp (Khéóp) là tráng lệ nhất. Nó được xây vào năm 2600 trước Công Nguyên, gồm 2,300,000 phiến đá cực lớn, nặng trung bình 2.5 tấn xếp chồn lên nhau. Tổng trọng lượng của Kim Tự Tháp là 60,000,000 tấn, tương đương với độ cao của tòa nhà cao chọc trời 40 tầng. Với con mắt người hiện đại thì bản thân nó đã trở thành một câu hỏi cực lớn và một dấu than lớn làm day dứt biết bao thế hê..

Kim Thự Tháp Khê Ốp chứa hàng loạt các câu hỏi khiến ta không thể không bàn tới.

*Thứ Nhất: Kim Tự Tháp được kết cấu và thiết kế với các số liệu vô cùng chính xác. Tháp cao 146.5 x 1000 triệu thì tương đương với khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trời, lấy 2 lần chiều cao tháp chia cho diện tích tháp 52,900 mét vuông thì sẽ là số p (3.14159). Đường kinh tuyến đi qua tháp vừa đúng là đường phân chia hai nửa bằng nhau giữa lục địa và hải dương của quả đất. Còn bình phương chiều cao tháp thì bằng diện tích hình tam giác của một mặt tháp. Nếu kéo dài đường góc đối hình vuông góc đáy tháp thì vừa đúng bao gồm vùng Tam Giác Châu cửa sông Nilẹ Còn kéo dài đường chia đôi hướng dọc từ điểm đỉnh tam giác sẽ đi qua đường chia đôi của chau thổ này .

*Thứ hai: Đo lường kiến trúc vô cùng chính xác. Tất cả đầu đá mặt tháp đều được xếp chồng lên nhau và dựa vào trọng lượng của bản thân để liên kết mà không dùng bất cứ một chất kết dính nàọ Các khe hở ở bề mặt thân tháp và đầu đá xếp khít với nhau tới mức một lưỡi dao cực sắc, cực mỏng cũng không thể luồn vào được. Chênh lệch độ cao ở góc Ddông Nam và góc Tây Bắc chỉ tới 1.27 cm. Sai lệch chiều dài các cạnh đáy cũng không quá 20 cm, dung sai không quá 9/1000.

*Thứ ba: Có nhiều lực thần bí siêu tự nhiên. Bên trong Kim Tự Tháp như một chiếc tủ lạnh cực lớn. Nếu đem sữa tươi, nước quả, hoa quả, thịt tươi đặt vào trong đó vài ngày vẫn giữ được như mớị Nếu gieo mần các loại sản phẩm ở trong Kim Tự Tháp thì thời gian sinh trưởng ngắn hơn vài lần so với gieo trồng ở ngoài tháp mà sản lương lại cao, chắc hạt. Các vật bằng kim loại đang có các vết đốm gỉ nếu đặt trong Kim Tự Tháp một thời gian sẽ trở lên sáng bóng lấp lánh. Ngoài ra trong tháp còn có hiệu ứng gây tê và chống thối rữạ Người nao suy nhược thần kinh, nếu nằm ngủ trong tháp sẽ nhanh chóng đi vào giấc mô.ng. Người khó chịu toàn thân, bao gồm đau đầu, đau răng, phong thấp, viêm khớp ... khi vào tháp sẽ cảm thấy dễ chịu, tinh thần sảng khoái, đau đớn tiêu tán. Những cây gỗ còn ở trong tháp đều được thoát (bay) nước tự nhiên và diệt khuẩn, có thể tồn trữ đã vài ngàn năm mà vẫn không bị mục.

Các nhà khoa học phát hiện trong Kim Tự Tháp thực tế có một loại khoảng không dao động viba tương đối tốt. Trong khoang này, hiệu ứng viba (kể cả hiệu ứng nhiệt) được phát huy một cách đầy đủ. Ddiều này làm cho gỗ trong tháp được bảo quản lâu dàị

Các nhà khoa học còn phát hiện trong tháp còn tồn tại sóng vũ trụ rất lớn, có ảnh hưởng với mức độ khác nhau ở đầu và cơ thể ngườị Vậy sóng vũ trụ trong tháp từ đâu tớỉ Các nhà nghiên cứu cho rằng: trong quần thể Kim Tự Tháp Ai Cập (gần trên 70 tháp nằm rải rác vùng Chi-Tát, hai bên vờ hạ lưu sông Nil và một khu rộng lớn ở phía Nam) thì tháp nào cũng đều có hướng chính Nam đi Bắc và không hề có sai lê.ch. Theo hướng này thì hoàn toàn đúng với đường sức từ của trái đất, như vậy sẽ làm cho đường sức từ đi qua tháp được nhiều nhất. Bên trong tháp còn có đá hoa cương thu nhận sóng vũ trụ và có khả năng tích điện. Bên ngoài tháp lại là đá vôi không thể thu nhận, tồn trữ các loại điện năng và sóng vũ tru.. Như vậy đá hoa cương trong tháp sau khi đã tiếp nhận, tồn trữ từ năng quả đất và sóng vũ trụ thì dùng đá vôi ở bên ngoài tháp đề phòng khuếch tán. Chính vì vậy, trải qua trên 4000 năm, bên trong Kim Tự Tháp đã thu nhận và tồn trữ một lượng rất lớn sóng vũ trụ và năng lượng địa cầụ Từ những gợi ý về kết cấu của Kim Tự Tháp Ai Cập, hiện nay đã có nhiều nước xây dựng các vật kiến trúc theo kiểu Kim Tự Tháp với nhiều hình dáng khác nhau để tiến hành thử nghiệm. Có nói thì xây kho theo đúng kiểu Kim Tự Tháp dùng để bảo quản lâu dài lương tực hoặc là các kho chứa vật dự trữ chiến tranh.

Vậy thi ai là người xây Kim Tự Tháp lớn nhất (Kim tự Tháp Khê Ốp) và hoàn thành công trình vĩ đại này như thế nàỏ Ngày nay, mọi người không ai nghi ngờ gì về vị vua thứ 4 của Ai Cập cỗ là người đã đề xướng và xây nên Kim Tự Tháp lớn nhất. Vì hầu như toàn bộ các băn bia và sách cổ của ai Cập lưu giữ đều nói khá rõ việc nàỵ Nhưng có nhà nghiên cứu lại cho rằng: NẾu theo sức lao động của người đương thời thì Kim Tự Tháp lớn cơ hồ không thể xây dựng được xong trong thời gian cuộc đời Khê Ốp. Giáp định ở đây có khả năng Khê ốp ngụy tạo ra các văn bia và thư tịch về người xây dựng Kim Tự Tháp lớn nhằm đề cao cái uy cái đức và công lao của ông tạ Thủ pháp này vào thời cổ không phải là hiếm thấỵ Trong thư viện Bô Ddéc Li An đại học oxford phía bắt nước Anh có lưu giữ một bản thảo cho thấy: Kim Tự Tháp lớn là do quốc vương Sô Lít cách thời Khê ốp khá xa đề xướng xây dư.ng.

Bản thảo này là di cảp của Ma Si Út - nhà văn người Kô phút Ai Cập. Ttác giả đã qua một thời gian dài nghiên cứu điều tra cho biết: Trước đại hồng thủy, nhà vua hiền Su - bít trị vì Ai Cập đã từng ra lệnh cho tín đồ của mình là ghi chép tất cả những học vấn của mình lại và lưu cất trong Kim Tự Tháp. Tác giả còn vạch rõ rằng theo truyền thuyết của người Kô phút thì Kim Tự Tháp thực ra là được xây dựng vào trước thời đại Hồng Thủỵ Như vậy, nó có trước vài trăm năm thời Khê ốp. Trong cuốc lịch sử (quyển 2) của nhà sử học Hy Lạp cổ Hêrodotos xác thực là có sự suy diễn nàỵ Bây giờ chúng ta hãy tìm hiê/u số lượng người tham gia xây dựng tháp và thời gian xây dựng nó thực tế phải mất bao lâủ

Theo Herodotos (ông đã đến Ai Cập thế kỷ 5 trước Công Nguyên và đã khảo sát thực địa Kim Tự Tháp) thì việc xây dựng đại Kim Tự Tháp này phải mất tổng cộng 30 năm. Thợ xây được chia thành từng kíp 100,000 ngườị Mỗi kíp thợ phục dịch 3 tháng, luôn phiên thay đổị Nhưng theo một nhà nghiên cứu khác lại cho rằng: theo điều kiện đương thời, chưa có cần cẩu và các máy móc vận chuyển hiện đại, chỉ có thể dựa vào con lăn, đòn bẩy và các dụng cụ thủ công khác. Vậy thì làm thế nào đê/ đưa khối đá lớn nặng 2.5 tấn tới độ cao trên 100 mét? Quá trình thao tác sẽ phải như sau: Trươc' hết phải xây xong lớp mặt nền, sau đó đắp dốc bằng đất có độ cao bằng tầng thứ nhâ"t rồi trượt theo dốc đâ"t mà kéo đưa đá lên tầng 2 ... Khi xây xong tháp mới chuyê/n đất đi để lộ Kim Tự Tháp rạ Tính toán theo cách làm này thì mỗi ngày thực tế chỉ có thể xâyđược 10 khối đá, mà toàn bộ Kim tự tháp dùng tới 2,300,000 khối đá lớn thì phải dùng tới 230,000 ngày tức là 630 năm. Do đó, tháp xây xong mà Su lít vẫn chưa nhìn thấp còn Khê ốp thì ngôn ăn sẵn mà được hưởng. Về việc này, lại có học giả cho rằng: Thời bấy giờ gỗ ở Ai Cập rất hiếm, mà phần nhiều là cây co.. NGười Ai Cập lại không biết chặt đẽo làm thành côn lăn. Hơn nữa, quả cọ lại là thực phẩm không thể thiếu được của ho.. Thân cọ khô và lá cọ là vật liệu duy nhất dùng để che nắng, chống nóng của dân vùng nàỵ Nói về công cụ vận chuyển để xây tháp là con lăn thì người Ai Cập cổ chỉ có thể nhập khẩu gỗ về, mà khả năng của nước Ai Cập thời đó liệu có làm nổi không? Ngoài ra muốn nhập khẩu được gỗ thì phải có một đội thuyền khả quan, phải chặt gỗ từ núi Ali, chuyển ngược dòng sông Nil, tới Cai-rô, Chi-tạ Vào thời xây tháp, người Ai Cập lại chưa có ngựa và xe ngựạ Mãi tới vương triều thứ 17 - Khoảng năm 1600 trước CN thì ngựa và xe ngựa mới thấy có ở Ai Cập. Vậy thì với số lượng gỗ lớn như vậy, sẽ không có cách nào đưa được tới Cai-rô, Chi-ta ...

Nhà học giả PunĐdan-Ni ken đề xuất: Kim tự tháp Ai Cập, đặc biệt là Kim Tự Tháp Khê ốp là do người ngoài hành tinh thực hiện. O6ng cho rằng Ai Cập cổ xưa chưa có kỷ thật đo lường, vùng này lại thiếu đá và gỗ, không thể làm được một công trình kiến trúc cao to như vậỵ Ông còn nhất mạnh: Muốn xây ngọn Kim Tự Tháp như vậy thì ngoài số thợ có mặt tại công trường xây tháp, còn phải có một đội ngũ hậu cần phục vụ rất lớn. Nếu kể cả thành viên trong gia đình đi theo thì cần phải có tới 500,000,000 người mới ứng phó được. Nhưng theo suy đoán số nhân khẩu vào năm 2600 trước CN thì thế giới lúc bấy giờ chưa vượt quá 20,000,000 người (về số liệu này tuyệt đại đa số các chuyên gia đều công nhận như vậy). Vì thế, Đan-Ni-Ken đoán rằng: Nhất định là có người ngoài hành tinh mang theo dụng cụ đo khoảng cách bằng tia laser, máy tính điện tử và cần cẩu ... hạ xuống vùng hạ lưu sông Nil để xây dựng Kim Tự Tháp.



Theo các báo cáo gần đây, nhóm khảo cổ học của tiến sĩ Pon-Gia-Lu phát hiện một đố.ng vật đóng băng trong một buồng kín ở Kim Tự Tháp. Họ đã dùng các máy móc thám trắc hiện đại để đo kiểm phát hiện thấy con vậy này có nhịp tim và báo hiệu có huyết áp. Tiến sĩ Ga-ba cho rằng: Con vật này vẫn là sinh vật có sức sống, tin rằng nó đã tồn tại 5000 năm trước. Ngoài ra được biết trong phòng kín (mật thất) này còn có một cuốn sách ghi chép bằng chữ tượng hình. Cuốn sách có ghi cách đây 500 năm về trước có một cỗ xe "thiên mã" đi vào gần thành Cai-rô để lại một người "Sinh hoàn giả". Ddây là một nhà thiết kế, khả năng người này đã thiết kế ra Kim Tự Tháp. Kim tự Tháp này dùng làm tháp tín hiệu thông báo cho đồng loại ở bầu trời tới cứu viện.

Nhà hóa học đương đại người Pháp là Da-viđu-uyt, lại có một cách giải thích khác. Ông cho rằng: Những khối đá lớn xây dựng Kim Tự Tháp là những khối đá nhân tạo đổ ép lại, không phải là đá thiên nhiên, ông đã lấy mẫu các viên đá nhỏ thu được ở Kim Tự Tháp đem về hoá nghiệm. Kết quả cho thấy những viên đá này được làm từ những mỏ đá vỏ sò. Vì thế, thời bấy giờ rất có khả năng sử dụng phương pháp "Hóa chỉnh vi linh" tức là trước hết cho bê tông đã trộn vào các khoang sọt rồi mới đưa lên Kim Tự Tháp đang xây, từ đấy mới đúc từng khối một, từng tần từng tầng cao dần. Với giả thuyết này cũng có thể là lời giải đáp vì sao các mối ghép giữa các viên đá với nhau lại khít như vậỵ Mặt khác, Đa vi du uýt còn dự đoán rằng: số no lệ lao động trên công trường vào thời ấy không quá 1500 người mà không phải là 100,000 người như Heroestos nêu rạ Lời giải thích này hoàn toàn thống nhất với quan điểm của đại đa số người trước đây, cho rằng người Ai Cập cổ hoàn toàn có đủ khả năng tự thiết kế và hoàn thành việc xây dựng Kim Tự Tháp

Thaiquang026
12-07-2007, 06:22 PM
Trên quảng trường đại Kim tự tháp Phi-Lin (Guy Zeh) gần Cai-rô thủ đô Ai Cập có một tượng thần sư tử mặt người rất nỗi tiếng . Đó là tượng Shinx mà người ta thường nói đến . Tương truyền SHinx học được nhiều câu đố của nữ thần trí tuệ Mu-Si na-li đã làm hại không biết bao nhiêu người . Sự tồn tại của bản thân nó đã trở thành bí mật văn hóa lớn nhất trong lịch sử Ai Cập.

Tượng Shinx được điêu khắc từ một tảng đá tự nhiên cực lớn cao 22m, dài khoảng 57 m, tai dài 2 m, nguy nga sừng sững khiến mọi người phải ngạc nhiên. Đặt biệt là nụ cười mỉi cao sau khó lường mà nưới dãi chảy ra từ 2 bên mép lại càng làm khuynh đảo du khách bốn phương đến thăm.

Tương truyền Shinx là yêu quá thời đại xa xưa, sống ở ngoài thành Ti-bai Ai Cập, là một quái vật do người khổng lồ Ti-phen và yêu quái rắn E - héc - na lấy nhau sinh ra. Tuy có chiếc đầu xinh đẹp nhưng thân lại là sư tử và có đôi cánh . Hắn đã từng theo học nữ thần trí tuệ Mu-si nên rất có bản lĩnh nhưng tính nết hung tàn, thích ăn thịt người . Để cho người bị nó ăn thịt phải tâm phục, khẩu phục, nó thường đúng chờ ở cửa rừng, cạnh núi, đầu đường, bắt ép người qua đường phải đoán những câu đố mà nó đưa ra . Những câu đố này học từ thần Mu-si thì người thường làm sao đoán nổi . Mượn cớ không đoán được, nó bèn xé xác người giải đố đáng thương thành từng mảnh rồi bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến .

Một hôm, con trai của quốc vương Ai Cập Khơ - ri - ông cũng bị Shinx bắt phải giải đố . Do ông đã không đoán nổi câu đố mà trở thành mồi ngon trong miệng SHinx. Quốc vương nghe tin vô cùng thương xót bèn truyền lệnh ra toàn quốc và thông báo cho các nước láng giềng: Ai có thể hàng phục được Shinx, khiến nó không hại người nữa thì ông sẽ trao quyền ngôi vị quốc vương và người hoàng hậu xinh đẹp của ông cũng trở thành vợ người hùng ấy .


Mệnh lệnh của quốc vương làm kinh động bốn phương. Có một người thanh niên Hy Lạp ở bên bờ biển bên kia tên là E-ti-pus dũng mãnh và mưu trí, rất hay ra tay trước những việc bất bình . Khi biết nhân dân Ai Cập gặp nạn, anh liền vượt biển sang, bóc tờ cáo thị của vua.

Anh đến tìm Shinx, quả nhiên nó lại đưa ra một câu đố bắt ai phải giải:

"Ngươi hãy đoán xem, con gì ... hừm, hừm ... Nó có thể phát ra tiếng (âm thanh). Buổi sáng đi bằng 4 chân, buổi trưa đi bằng 2 chân, buổi tối đi bằng 3 chân. Trong muôn loài, chỉ có nó mới đi đường trong thời gian khác nhau thì dùng bước chân khác nhau. Khi nó đi nhiều là lúc tốc độ và sức lực nhỏ nhất ?"

Shinx nói xong thản nhiên nở nụ cười thần bí - cái nụ cười của Shinx nổi tiếng bốn phương . Sau đó, nó lặng lẽ đứng chờ câu trả lời của người thanh niên nước khác tự đến tìm nó . Nào ngờ, E-ti-pus chả cần phải nghĩ gì thêm, lập tức đáp lại:

"Đó chính là người! Khi còn bé, là buổi sáng của sinh mệnh, trẻ con mới học đi đều phải dùng chân lẫn tay mà bò, đó chẳng phải là bằng 4 chân đấy sao. Lúc này tuy phải dùng nhiều chân nhưng tốc độ và sức lực lại nhỏ nhất. Sau đó lớn lên vào lúc tráng niên, cũng là buổi trưa của sinh mệnh, đi lại bằng 2 chân. Tới tuổi về già, cơ thể suy nhược, đi lại phải dùng đến gậy, đó có phải là 3 chân đấy sao!"

Shinx không ngờ người thanh niên trước mặt lại thông minh hơn nó . Nó cảm thấy xấu hổ lạ thường, không biết trốn vào đâu, nó ngã từ trên cao xuống mà chết .

Quốc vương Ai Cập sau khi nghe được tin vui, không nói thêm một câu, giữ đúng lời hứa trao quyền ngôi vua và người vợ xinh đẹp cho E-ti-pus để tỏ lòng cảm ơn người dũng sĩ . Trước khi nhường ngôi, quốc vương còn ra lệnh cho thợ tạc khác tượng Shinx ở nơi nó thường xuất hiện (chính là chỗ có pho tượng Sư tử mặt người hiện nay). Pho tượng này to bằng cả một mảng núi, để cho mọi người nhớ đến các con ác quỷ đã từng xuất hiện trong lịch sử Ai Cập

Về lai lịch của pho tượng sư tử mặt người các nhà học giả đưa ra một số giải thích khác hẳn với truyền thuyết nổi tiếng nói trên. Trong đó có ý kiến cho rằng tượng sư tử mặt người không phải do con người tạc mà đó là tảng đá tự nhiên do phong hóa mà có . Cách giải thích này cũng viện dẫn một tài liệu bia miệng để chứng minh. Đó là 3400 năm trước, vương tử trẻ tuổi nước Ai Cập là Tua-mô đi săn, thấy người mệt mỏi bèn nằm xuống bãi cát ngủ, mơ thấy một quái vật mình sư tử đầu người . Quái vật nói với vương tử: "Tôi là Hu-vơ-u-her vĩ đại (nghĩa là thần chim ưng, một đại thần mà người Ai Cập sùng bái), nay tôi bị bùn đất phủ kín người . Nếu chàng nào gạt hết đất cát giúp tôi, tôi sẽ để chàng làm quốc vương Ai Cập". Tua-mô giật mình tỉnh dậy, liền ra lệnh cho binh lính lấy cuốc xẻng đào bới ngọn núi này . Sau một ngày đêm vất vả cũng đào hết đất đá, để lộ ra tượng sư tử mặt người .

Một số học giả lại phê phán thuyết cho rằng tượng này là đá tự nhiên, họ cho rằng tượng đá sinh động đủ đầu, mắt, tai ... nếu hoàn toàn là đá tự nhiên mà có thì chẳng ai tin được . Nhưng họ cũng chưa thỏa mãn về cách giải thích theo truyền thuyết Shinx. Vì vậy, họ đưa ra cách giải thích khác:

Đại khái vào khoảng 2,500 trước CN (tức là vào thời pháp lão Ha-phu-la triều vua thứ tư vương quốc Ai Cập cổ . Một năm Ha-phu-la đi kiểm tra lăng tẩm Kim tự tháp của mình đang xây, nhìn thấy một tảng đá to bỏ phí ở một bên, thấy tiếc của, ông bèn ra lệnh cho thợ tạc pho tượng sư tử mặt người có tướng mạo như mặt ông để kỷ niệm việc Kim tự tháp đã hoàn thành .

Về cách giải thích sư tử có bộ mặt của Ha-phu-la, còn có một truyền thuyết khác là khi Ha-phu-la đi kiểm tra Kim tự tháp, thấy ở đây không có dấu hiệu về quyền uy pháp lão của mình thì tỏ ý không bằng lòng . Mộg người thợ thấy vậy mới đề nghị dùng ngay khối đá lớn nặng tới 2000 tấn ở công trường để tạc nên cho pho tượng sư tử mặt người . Pho tượng này có điệu cười cao sâu khôn lường mà Ha-phu-la thường có để tượng trưng có trí tuệ và sự uy nghiêm của pháo lão Ha-phu-la.

Tới tháng 10-1991, tại hội nghị hàng năm địa chất học nước Mỹ tổ chức tại San Diego, có vài nhà địa chất học tuyên bố là họ có những kết quả nghiên cứu mới nhất về tượng sư tử mặt người . HỌ cho rằng tượng đá này không đúng như yêu quái Ha-phu-la theo truyền thuyết, cũng không phải pháp lão Ha-phu-la, lại càng không phải là đá tự nhiên. Họ đã dùng khoa học địa chất xác định: Tượng sư tử mặt người này đã điêu khắc rất sớm, vài nghìn năm trước Ha-phu-la. Đó là niên đại thành tượng thực tế phải là khoảng 5000-7000 năm trước CN. Có nghĩa là cách nay đã 7000-9000 năm. So với thời gian thành tượng theo truyền thuyết thì có trước hàng ngàn năm. Đương nhiên, cách giải thích mới này cũng được thừa nhận, bởi phần đuôi tượng được hoàn thành vào thời Ha-phu-la. Có nghĩa là tốp thợ thời Ha-phu-la tiếp tục tu sứa tượng sư tử mặt người đã tồn tại vài nghìn năm rồi nhập vào quần thể mộ Kim tự tháp Ha-phu-la.

Thuyết mới của các nhà địa chất làm cho các nhà khảo cổ phải ngạc nhiên. Họ cho rằng những kiến thức mà họ nắm được thì vài ngàn năm trước khi (Kê Ốp) Ha-phu-la thống trị Ai Cập, người sống ở vùng Cai rô ngày nay không thế có khả năng tạc được tượng sư tử mặt người, thậm chí cũng không có nhu cầu này . Nếu thừa nhận cách giải thích của các nhà địa chất tức là tượng sư tử mặt người này đã có 7000-9000 năm lịch sử . Vậy thì làm ra pho tượng này sẽ không phải là người Ai Cập mà chỉ là một nhóm sinh vật có trí tuệ cao cấp ở bên ngoài trái đất thực hiện .

Nhưng việc xác định "tuổi đời" của pho tượng mà các nhà khoa học địa chất đưa ra thì các nhà khảo cổ lại hoàn toàn phủ định . Thế là các chuyeYn gia thiên văn học vũ trụ đang đứng ngoài vòng liền khắng định tương sư tử mặt người thực sự do người ngoài trái đất thực thực hiện . Vì đã cho rằng Kim tự tháp do người ngoài trái đất thực hiện mà tượng sư tử mặt người này cũng là kiệt tác đồng thời thì tại sao lại không phải?

Cuộc tranh luận trên ai cũng bảo lưu cách giải thích của mình đến nay vẫn chưa giải đáp được bí mật về tượng sư tử mặt người . Ngoài ra, ở pho tượng này đã từ lâu không thấy có mũi, cũng là một dạng quái vật. Còn một việc nữa là cho tới hiện nay mỗi khi mặt trời nhô lên khỏi đường chân trời thi bên than pho tượng lớn này lại có các tiếng ca tiếng khóc thảm thương từng đợt, vang bốn phía mà quanh đó không một bóng người .

Đây cũng là một điều bí hiểm nữa về pho tượng sư tử mặt người chưa có lời giải đáp .

Thaiquang026
12-07-2007, 06:23 PM
Atanski, người Hà Lan gốc Mỹ nói rằng: ông ta đã có tới 25 lần trao đổi với người ngoài hành tinh. Trong đó, người mà ông ta hay qua lại nhất là người sao Kim. Atanski đã viết lại những sự việc mà ôngh đã trải qua thành cuốn sách tựa đề "UFO đã hạ xuống mặt đất". Khi phát hành, sách này bán rất chạy và đã được dịch thành 18 thứ tiếng để phát hành.

Atanski đã trở thành người anh hùng trong ánh mắt của người yêu thích đĩa bay trên toàn thế giới.

Atanski gặp người sao Kim vào ngày 20 tháng 11 năm 1952. Khi ấy, ông đã vào tuổi hoa niên nhưng lòng vẫn viển vông, đề ra "thuyết yêu thương đồng bào vũ trụ" với hy vọng bức thiết là thông giao được với người ngoài hành tinh. Cuối cùng điều kỳ lạ ấy đã đến với ông. Hôm ấy vào 11 giời 30, khi ông đang cùng đám bạn bè nghỉ ngơi và ăn uống dã ngoại ở trung tâm sa mạc bang Clifornia thi bỗng nhiên có một chiếcn đĩa bay màu trắng bạc cực lớn từ trên trời đáp xuống và dừng lại ở gần chỗ họ. Sau đấy, từ trong ấy có một người đi ra. Atanski sau này viết lại trong sách "UFO hạ xuống mặt đất":

"Khi người ấy đến gần thấy mái tóc dài chấm vai và có dung mạo rất đẹp, thật khó mà tả được. Trên thành người ấy toát lên một là khí chất thông minh và sức thân thiện vô hạn. Lúc này tôi mới nhận ra, người mà tôi nhìn thấy là một người ngoài hành tinh, từ bên ngoài Trái Đất đến".

Người ngoài hành tinh mỉm cười thân thiện với các bạn của anh. Người này còn rất trẻ, nếu theo ước đoán nói chung của người trên địa cầu thì vào khoảng trên dưới 28 tuổi, cao khoảng 1.60 m. Quần áo của anh ta khâu liền với nhau, giống như quần áo công tác của người địa cầu. Người ngoài hành tinh nói rằng anh ta là người đến từ sao Kim. Người này nói có một số âm như Trung văn, tiết tấu trong, vang làm cho Atanski mất nhiều công sức để hiểu ý họ nói . Atanskin nói rằng lúc bấy giờ ông ta đã dựa vào cảm ứng điện tim và ra hiệu bằng tay để trao đổi với người sao Kim.

Người sao kim giới thiệu với ông rằng, anh ta xuống đây là để điều tra tính nguy hại của các vụ nổ hạt nhân. ANh ta còn dắt ông đến gần đĩa bay quan quát bên ngoài đĩa bay và giới thiệu với Atanski vi^` đĩa bay dùng nguyên lý hút, đẩy của từ trường để vượt thái không. Anh ta còn nói người sao Kim sinh sống theo luật pháp vũ trụ, không bao giờ vi phạm pháp luật.

Ngày 18 tháng 2 năm 1953, Atanski được vào tham quan bên trong đĩa bay của người sao Kim ở sa mạc bang California. Ông kế lại rằng: ở chính giữa đĩa bay dùng năng lượng từ trường làm động lực bay có một trụ từ trường, đường kính 60 cm xuyên từ vách đỉnh đĩa bay tới phần đáy. Đĩa bay dựa vào bộ phận này để di chuyển. Người sao Kim cho biết, đĩa bay của họ đượi thái không mẫu hạm cỡ lớn đi lại giữa các tinh cầu, vận chuyển đến. Vì bất kỳ đĩa bay nào cũng không có cách nào bay thẳng từ sao Kim tới địa cầu được và cũng không thể bay tới bất kỳ tinh cầu nào khác thuộc Thái Dương Hệ.

Buổi tối hôm ấy, Atanski còn được ngồi trong đĩa bay ấy bay vào trong mẫu hạm kiểu "sì gà" tổng chiều dài tới 600 m có hai co gái sao Kim vô cùng xinh đẹp đón tiếp ông. Ông nhớ lại rằng: Đó mới thực sự là tiên nữ. Họ mặt một bộ xiêm áo từ cổ đến chân có các thứ như những chiếc chuông nhỏ, chiếc thắt lưng có gắn đá quí. Họ giải thích với Atanski rằng "tốc độ tầu thái không của họ tương đương với nhịp hoạt động vũ trụ và không giống như máy bay ở quả đất là dùng sức người nạp nhiên liệu để đẩy. Tàu thái không bay đi trên dòng lưu ba của vũ trụ giống như đi lạy bằng thuyền buồm trên quả đất".

Atanski được ngồi trong tàu thái không của người sao Kim bay ra ngoài tầng khí quyển trái đất, thấy có rất nhiều các hạt phát sáng bay đi bay lại như đom đóm ở bên ngoài của sổ tròn. Khi người sao kim đưa Atanski trở về trái đất đã là 5 giờ 10 sáng 20 tháng 2.

Sau này Ataski còn được người sao Kim mời xem màn hình lập thể trong phi thuyền thái không nên đã tháy cảnh tượng các đô thị ở sao Kim. Đó là những đô thị hình tròn to, nhỏ khác nhau. Trên nóc các công trình kiến trúc có các vần sáng lấp lánh giống như cầu vồng. Công cụ giao thông cũng giống như ô tô trên Trái Đất, nhưng đều bay trên khoảng không của đô thị.

Người sao Kim nói với Ataski tuổi thọ của người sao Kim nếu tính theo cúa người trái đất có thể thọ tới 1000 tuổi. Đó là vì lớp mây bao quanh sao Kim có thể ngăn cản các phóng xạ có tính phá hoại xuyên qua. Họ còn nói với Ataski sau này tuổi thọ của người trái đất cũng sẽ lâu hơn những phải đợi khi trực tự quay nghiêng của trái đất nghiêng hơn, để phần đáy biển nhô lên mới được. Khi đó nước ở đáy biển phải bốc hơi mới tạo thành một lớp mây thật dày trong không trung.

Qua lời kể xủa Ataski, về các mặt hữu quan có chỗ nghi ngờ, có chỗ tin được, cũng có chỗ hoang đường. Được biết rất nhiều các nhân vật trong quân đội Mỹ, hội nguyên tử năng lượng quốc gia, tham nghị viện, chúng nghị viện, đại diện Liên Hiệp Quốc ... đã nhiều lần tiếp xúc bí mật với ông để nghê ông truyền đạt tin tức của người sao Kim qua con đường cảm ứng điện tim. Ngoài ra, còn không ít đài truyền hình đến phỏng vấn, trao đổi về vấn đề tuổi thọ của người sao Kim. Ông từng 2 lần bị ám sát nhưng may mắn thoát nạn, bởi có một số người cho rằng ông là kẻ lừa bịp, gây hoang mang hoặc thuộc giáo đồ khác.

Chính phủ Mỹ và chính phủ Liên Xô đều có mục đích chiến lược riêng, rất có hứng thú với lời kể của Ataski. Bắt đầu từ thập kỷ 60 của thế kỷ này, đồng thời với việc thăm dò sao Kim, họ còn tăng cường nghiên cứu về đĩa bay và tuổi thọ của sinh mệnh người sao Kim. Họ đã phong lên rất nhiều vệ tinh nhân tạo, nhằm tìm hiểu thế giới văn minh của sao Kim. Trong đó, tháng 6 năm 1967, "sao Kim số 4" của Liên Xô sau hơn 4 tháng phi hành ngày 18 tháng 10 năm ấy, lần đầu tiên xuyên qua khí quyển sao Kim, chạm vào bề mặt sao Kim. Đây là lần đầu tiên loài người thực hiện hạ cánh mềm các máy móc thám hiểm lên sao Kim.

Qua phân tích những tấm ảnh màu có liên quan đến bề mặt sao Kim co vệ tinh nhân tạo phát từ sao Kim về và kết hợp với quan trắc thiên văn về sao Kim đã tiến hành nhiều năm, người ta dần dần biết được: Sao Kim là một thiên thể, cách trái đất gần nhất (Trừ mặt trăng đã biết) cách Trái Đất trung bình khoảng 42,000,000 km. Bề mặt sao Kim được che phủ một lớp may rất dày, như chiếc khăn voan che mặt nặng trĩu của nữ thần xinh đẹp. Bán tính kim tinh khoảng 6050 km, bằng 95% bán kính Trái Đất, trọng lượng bằng 81% trọng lượng Trái Đất, khoảng 4.87 x 10^27 gr mật độ trung bình 5.2 g/cm^3, bằng 95% địa cầu. Thể tích bằng 88% địa cầu. Gia tốc trọng trường bề mặt không nhiều. Vì thế, trước đây người ta thường gọi quả đất và sao Kim là chị em sinh đôi.

Quang trắc kỹ và phân tích kỹ về sao Kim càng cho thấy khí hậu trên sao Kim gần như ở quả đất, đương nhiên có khác về thiên nhưỡng (đất đai) vì vậy nó vẫn là một thế giới hoang vu lạnh lẽo màu vàng. Lớp mây dày đặc trên bề mặt đã phản xạ trở lại ánh sáng Mặt Trời hoặc là chậm trễ đưa lại, làm cho sao kim ban ngày cũng không như ngày (thiên nhật), lúc nào cũng giống như ngày mưa, âm thầm trên quả đất. Bề mặt sao Kim che phủ một lớp phù thổ (đất trôi nỗi) dày tới 1 mét. Phía dưới lớp phù thổ là lớp nham thạch cứng . Trên mặt sao Kim có cao nguyên và núi cao. Cao Nguyên lớn nhất là Bắc bán cầu dài 3200km, rộng 1600km. Ngọn núi cao nhất là 11,278 m. Trên sao Kim còn có một đường nứt lớn chạy dọc ngang Nam bắc giống như đường xích đạo của quả đất, đường nứt này dài tới 1200km.

Thành phần khí quyển sao Kim chủ yếu là Acid Carbonic, ngoài ra còn một lượng rất ít các chất Nitơ, Hydrogen, Co, CIO, FeO. Lớp mây phủ kín cách 30-40 km bề mặt sao Ki9m dày tới 25km. Bên ngoai lớp mây đặc đại khái là nguyên tử Oxy. Khí Cacbonic (CO2) trong lớp mây dày của sao Kim (chiếm tới 97% lượng khí quyển trở lên) phong tỏa nhiệt từ Mặt Trời chiếu xuống . Tia hồng ngoại không thể bức xạ ra ngoài từ đấy mà tạo ra một "hiệu ứng buồng nhiệt" cực mạnh. Cũng chính vì vậy mà nhiệt độ bề mặt sao Kim rất cao, có thể lên tới 465 - 485 độ C.

Từ kết quả thám trắc và phân tích cho thấy bề mặt sao Kim vẫn là một thế giới cao nhiệt cao ôn, không có dòng chảy và hải dương, không có sự sống của sinh vật học . Vậy thì những lời kể của Ataski về các cuộc tiếp xúc với người Sao Kim và những lời giới thiệu về văn minh sao Kim phải chăng là những tiết mục của người đần trong đám người đần .

Các nhà khoa học cho rằng cũng chưa hẳn đơn thuần phủ định. Vì những lý do sau:

1. Trong những thập kỷ từ 50 đến 80, các nhà thiên văn học đã thu được hàng loạt các sóng vô tuyến điện phát đi từ sao Kim, trong khí quyển sao Kim, trên các trạm mặt đất và trên các vệ tinh nhân tạo.

2. Tháng 6 năm 1989, nhà khoa học Liên Xô, khi phân tích các bức ảnh sao Kim do vệ tinh chụp phát hiện ra rằng bề mặt sao Kim có dấu vết của 20,000 thành phố. Các nhà khoa học cho rằng thực ra quả đất ở vào giai đoạn sơ khai tồn tại cũng có khả năng giống như sao Kim hiện nay, hàm lượng CO2 trong khí quyển rất lớn, Oxy tự do rất ít (đương nhiên, khí quyển không dày đặc như sao Kim). Nhưng lúc bấy giờ quả đất đã có mặt các sinh vật. Vì thế, lấy việc CO2 ở sao Kim khá nhiều và khiếm quyết OXY để phủ định sao Kim có sự sống là không thoả đáng .

Nhà khoa học Liên XÔ cũ Ni-cô-la Li-phi-chê-khốp đã phát biểu trong hội nghị khoa học lần thứ nhất tại Bruc-xen Bỉ: Những thành phố này nằm rải rác trên bề mặt sao Kim, nếu chúng ta biết được ai là người xây dựng nó thì hay biết mấy... Chúng ta tuyệt đối không có cách nào sống được giây lát trên sao Kim, nhưng các sinh vật lại làm được, đồng thời lưu lại các vết tích văn hóa vĩ đại để chứng minh nó .

Sau này, các nhà khoa học lại tiến hành phân tích các ảnh chụp sao Kim do các vệ tinh nhân tạo chụp về, nhận thấy rằng: Vết tích 20,000 thành phố trên mặt sao Kim hoàn toàn gồm các kiến trúc dạng Kim tự tháp hình côn 3 cạnh. Các công trình kiến trúc như vậy có thể tránh được nhiệt độ cao ban ngày, tránh lạnh lẽo ban đêm, còn có thể phòng ngừa bão tố mạnh.

Năm 1973, nhà thiên văn học Liên Xô cũ Sec Vơ la pu nốp từng nêu lên giả thiết: Người sao Kim hiện nay phải sống ở dưới lớp đất bề mặt sao Kim, đó là những thành phố ngầm thực sự. Các di chỉ thành phố trên mặt đất vẫn là những chứng cứ nền văn minh công nghiệp sao Kim làm ô nhiễm khí quyển buộc người sao Kim phải sống dưới lòng đất .

Thực sự thế nào chỉ sau này mới trả lời được.

Thaiquang026
12-07-2007, 06:26 PM
Do bị tưởng nhầm là đã chết, cô bé Nazira Rustemova (4 tuổi, người Kazakstan) từng bị chôn sống. Được đưa ra khỏi mộ, Nazira chìm vào một giấc ngủ dài 16 năm rồi mới đây đột nhiên tỉnh dậy. Cơ thể của cô (vốn thay đổi rất ít trong thời gian hôn mê) bỗng lớn lên từng ngày để nhanh chóng trở thành cơ thể một phụ nữ trưởng thành.

Đó là một trong những trường hợp mắc chứng hôn thụy, cho đến nay vẫn là một bí ẩn đối với khoa học. Những người bị chứng hôn thụy có thể ngủ hàng tháng trời, thậm chí vài chục năm. Trong thời gian đó, cơ thể họ hầu như không có sự thay đổi. Sau khi tỉnh giấc, quá trình trao đổi chất được tăng tốc khiến cho cơ thể lớn nhanh trông thấy, y như trong truyện cổ tích. Ở một số bệnh nhân, còn xuất hiện nhiều khả năng kỳ lạ mà trước khi hôn mê họ chưa hề có. Nazira Rustemova là một trường hợp điển hình.

Lúc mới sinh, Nazira là một cô bé khỏe mạnh, cơ thể phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác. Gần đến sinh nhật lần thứ 4, đột nhiên cô bé bị đau đầu dữ dội, không thuốc nào làm giảm được. Sau mỗi cơn đau, cô bé lại lịm đi. Một buổi sáng, khi vào đánh thức con, cha mẹ Nazira thấy cô bé nằm bất động trên giường. Các bác sĩ ở bệnh viện huyện khẳng định Nazira đã chết mà không rõ nguyên nhân.

Sau khi mai táng cho Nazira, ông và bố cô bé nằm mộng thấy có người bảo rằng Nazira chưa chết mà đã bị chôn sống. Người cha trở lại nghĩa địa, lật ván áo quan lên để kiểm tra. Ông sửng sốt nhận thấy xác con gái đã nằm sát vào một góc chứ không ở vị trí chính giữa như lúc hạ huyệt. Lớp vải liệm quấn quanh cô bé bị nhàu và đôi chỗ có vết cào xước. Ông vội vàng bế con về nhà.

Hai tuần liền, gia đình Nazira tìm mọi cách để đánh thức cô bé nhưng vô hiệu. Khi biết tin, Bộ Y tế Liên Xô đã chuyển Nazira lên Matxcơva để nghiên cứu. Cô bé được đặt trong ***g kính suốt 16 năm cho đến ngày bừng tỉnh.

"Suốt thời gian đó, tôi không hề ngồi dậy lần nào" - Nazira nhớ lại - "Mặc dù nằm bất động nhưng tôi vẫn nhận biết được mọi chuyện xảy ra chung quanh mình. Thậm chí có lần tôi còn ngửi thấy hương thơm thoang thoảng đặc trưng của vùng thảo nguyên quê tôi. Một hôm, tôi nghe thấy tiếng chuông điện thoại réo rất lâu. Mãi mà không có ai nhấc máy; thế là tôi quyết định đứng dậy để nói chuyện điện thoại..."

Sau khi tỉnh dậy, Nazira được các bác sĩ giữ lại để tiếp tục kiểm tra sức khỏe trong mấy tháng rồi mới về nhà.

Trong 16 năm ngủ lịm, người Nazira chỉ dài thêm 30 cm mặc dù vẫn tiếp nhận thức ăn qua hệ thống ống dẫn nối với dạ dày. Tuy nhiên, khi tỉnh lại, cơ thể cô phát triển nhanh như thổi. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, từ một cô bé, Nazira đã có một cơ thể phát triển như mọi cô gái 20 tuổi khác.

Trong mấy ngày đầu, Nazira đã phục hồi khả năng khẩu ngữ, có thể giao tiếp với mọi người mà không quên từ nào. Thậm chí, cô còn nói được 4 ngoại ngữ, trong đó có tiếng Latinh (một ngôn ngữ hiện rất ít người biết) và tự nhấc mình khỏi mặt đất nhẹ nhàng như bay. Tuy nhiên, sau đó mấy năm, những khả năng này biến mất. Nazira quên cả tiếng mẹ đẻ (tiếng Kazakstan), chỉ còn nhớ duy nhất tiếng Nga.

Thaiquang026
12-07-2007, 06:29 PM
“Tôi bỗng cảm thấy không còn đau đớn trong ***g ngực nữa. Người tôi nhẹ tênh, nổi phình lên trần nhà, phía sau các chụp đèn phủ đầy bụi. Tôi phát bực mình, sao phòng mổ lại bẩn thỉu thế! Phía dưới, các bác sĩ đang loay hoay quanh một xác chết. Phải mất một lúc tôi mới hiểu, đó chính là cái xác của tôi... ”, chị Marline, một bệnh nhân chết lâm sàng kể lại.

Marline kể tiếp: “…Nhưng tôi không hề hoảng sợ mà lại thấy sung sướng và tự do. Một miệng ống sâu hút với ánh sáng chói loà ở cuối đường hầm như mời gọi. Tôi đã định lao vào đó, nhưng còn muốn nhìn xuống dưới lần cuối: toà nhà trong suốt như đúc bằng pha lê vậy. Có mấy người đang sụt sịt khóc. Đó là chồng và các con tôi. Tôi nói: Tạm biệt! Nhưng không ai nghe thấy. Bỗng tôi sực tỉnh: Mình không thể bỏ mặc các con, ai sẽ nuôi dạy chúng…”.

Câu chuyện trên chỉ là một trong hàng nghìn trải nghiệm do những bệnh nhân chết lâm sàng kể lại. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Anh, thì 6% số bệnh nhân cảm thấy vui sướng khi tim ngừng đập. 69% được xem lại toàn bộ cuộc đời trước đó của mình như trong một cuốn phim tua nhanh. 44 % thấy mình bay trong đường ống. 72 % thấy người thân đã mất hoặc các thiên thần nói với họ rằng chưa nên chết vội. 19% khẳng định đã nhìn thấy địa ngục, phần lớn trong số này là những người tự sát.

Cho đến nay, các nhà khoa học phương Tây vẫn chưa thống nhất: Vì sao người ta có thể nhìn được sau khi đã chết? Một số ý kiến cho rằng, đó là vì não bộ vẫn còn sống sau khi tim ngừng đập. Nhưng vì không được cung cấp ôxy nên người bệnh bị rơi vào trạng thái mê sảng. Nhiều người khác lại khẳng định, đó là kết quả của hiệu ứng tràn hoóc môn, xảy ra khi cơ thể giải phóng tất cả các hoóc môn dự trữ vào thời điểm tim ngừng đập. Vài nhóm khoa học khác lại cho rằng ý thức vẫn tiếp tục sống, ngay cả khi cơ sở vật chất của nó là não bộ đã chết (điều này trùng với quan điểm của các tôn giáo lớn trên thế giới).

Đâu là ranh giới giữa sự sống và cái chết?

Chết lâm sàng là một trong những hiện tượng khó giải thích nhất trong y học hiện đại. Đó là sự “ra đi” nhưng lại bị níu kéo “trở về”, hay đơn giản là khoa học chưa xác định được đúng ranh giới giữa còn sống và đã chết? Giáo sư Rant Bagdasarov, Bệnh viện Thành phố Matxcơva, đã dành 29 năm để nghiên cứu hiện tượng này. Cuối cùng, ông rút ra những kết luận trái hẳn với các nhà khoa học khác.

Bagdasarov nói: “Sai lầm của tất cả các nhà nghiên cứu là họ đã tra hỏi người bệnh ngay khi tỉnh lại sau cái chết lâm sàng. Anh ta phải trả lời những câu hỏi theo mẫu định trước, trong khi còn chưa kịp tỉnh táo để hiểu gì đã xảy ra". Kết quả là họ thu được một bản dịch những cảm giác của người bệnh trong quá trình tỉnh lại, được diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường với các đường ống, ánh sáng chói loà,… tức là y hệt như trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, những bệnh nhân vô thần lại không thấy gì cả, thậm chí không nhớ nổi điều gì đã xảy ra khi chết lâm sàng. Bagdasarovnhận xét: "Như thế là đã rõ: Khi hồi tỉnh, não bộ rà soát nhanh lại toàn bộ bộ nhớ, vì vậy những gì bệnh nhân kể cho các nhà khoa học chỉ là điều đã được ghi nhận trong não bộ của họ từ trước, không hơn không kém”.

“Chúng tôi đã từng nghiên cứu hơn 20 bệnh nhân ngoan đạo tỉnh lại sau khi bị ngất. Họ cũng kể về những cảm giác nhẹ hẫng, về đường ống, ánh sáng chói lòa, thân nhân, thiên thần,… mặc dù rõ ràng người bị ngất chưa thể ở ranh giới của sự sống và cái chết, cũng như không thể thấy được thế giới bên kia. Điều đó khẳng định thêm quan điểm về sự rà soát nhanh bộ nhớ trong quá trình bệnh nhân tỉnh lại, dù bị ngất hay chết lâm sàng. Kết luận này khiến chúng tôi phải đặt lại câu hỏi: Vậy bản chất của chết lâm sàng là gì? Ranh giới giữa sự sống và cái chết như hiện nay chúng ta vẫn tin tưởng đã chuẩn xác chưa?…”, Bagdasarov nói.

Thaiquang026
12-07-2007, 06:30 PM
Trong phòng cấp cứu, xung điện làm người bệnh giật lên nhiều lần, nhưng tim không hoạt động lại. Bác sĩ nhìn đồng hồ: “Mười phút rồi! Não đã chết… Anh ta đang ở thế giới bên kia…”. Sai lầm này khiến hàng trăm nghìn người vĩnh viễn ra đi trong khi y học còn có thể cứu sống họ.

"Không biết ở Hollywood thế nào, chứ ở bệnh viện chúng tôi, mọi chuyện không kết thúc nhanh như vậy", Giáo sư Rant Bagdasarov khẳng định. "Việc cấp cứu vẫn tiếp tục khoảng trên dưới một tiếng đồng hồ sau khi tim đã ngừng đập. Đạo đức nghề nghiệp buộc chúng tôi phải hồi sức cho bệnh nhân dẫu người đó chỉ có thể sống lại thêm vài giờ nữa".

"Nếu người bệnh đã qua thời điểm đó trên một tiếng rưỡi đồng hồ hoặc bị chấn thương không thể cứu sống, hoặc bị bệnh hiểm nghèo ở giai đoạn cuối thì bệnh viện mới không tiến hành hồi sức cấp cứu. Trong trường hợp đó, bệnh viện phải thành lập một hội đồng y tế chuyên khoa để xác định việc cấp cứu là vô vọng. Nhưng thực tế, không thể kịp thời thành lập một hội đồng y tế theo đúng quy định được. Người bệnh được đưa đến trong tình trạng rất nguy kịch, mọi giây đồng hồ đều hết sức giá trị. Bởi thế nên chúng tôi phải bắt tay vào cấp cứu trước, rồi mới lập hội đồng xác định xem có nên cấp cứu sau hay không", Bagdasarov nói.

Ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mỏng manh, đến mức không một bác sĩ nào đủ thẩm quyền xác định xem người bệnh có thể còn cứu được hay không. Thực tế y học cho hay, khi người bệnh trút hơi thở cuối cùng, trái tim ngừng đập, điện não đồ chạy thành một vạch thẳng tắp, vẫn chưa thể khẳng định rằng họ đã chết. Nhiều bác sĩ không nhất trí với khái niệm “cái chết lâm sàng”. Theo họ, khi bệnh nhân bị coi là chết lâm sàng, thực tế anh ta vẫn còn sống, chỉ có điều y học chưa hiểu được trạng thái đặc biệt đó của sự sống mà thôi.

Chết lâm sàng hay giấc ngủ lạ?

Giáo sư Rant Bagdasarov đã dành 29 năm để nghiên cứu về "cái chết lâm sàng" và có thể khẳng định với đầy đủ luận cứ khoa học rằng chỉ khi các mô và tế bào của cơ thể bắt đầu tan rã, không phục hồi được mới có thể coi là người bệnh đã chết. Tim ngừng đập, não ngừng hoạt động chỉ là một sự cảnh báo về nguy cơ chết. Trong lúc đó, cơ thể vẫn sống trong trạng thái “chờ đợi” xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Nếu có những tác động y khoa đúng đắn, cơ thể có thể thoát ra khỏi trạng thái này và trở lại cuộc sống bình thường. Có lẽ chính trạng thái “chờ đợi” đó bị hiểu lầm là “cái chết lâm sàng”.

Bagdasarov nói: "Tôi đã từng chứng kiến nhiều cuộc hồi sức cấp cứu như thế này. Tim bệnh nhân ngừng đập nhiều lần. Mỗi lần xung điện làm nó hoạt động trở lại, bệnh nhân đều gắt lên Để yên cho người ta ngủ nào!”.

Có lẽ cái chết lâm sàng hay trạng thái chờ đợi chỉ là một giấc ngủ đặc biệt. Người bệnh có thể “thức dậy” hoặc “yên giấc ngàn thu”… Vấn đề chỉ còn ở trách nhiệm của các bác sĩ: đánh thức được anh ta dậy hay để anh ta ra đi vĩnh viễn.

Thaiquang026
12-07-2007, 06:31 PM
Khác với những con sóng thần (tsumani, được sinh ra từ các vụ động đất hoặc trượt đất dưới đáy biển), sóng ma (freak wave) thường xuất hiện đột ngột không vì lý do gì. Lâu nay, người ta không giải thích nổi vì sao từ lòng biển yên bình bỗng dưng lại dựng đứng lên những cột sóng cao tới mấy chục mét.

Trong những giai thoại do những người đi biển kể lại, thì sóng ma luôn là một nỗi ám ảnh, bởi vì nó xuất hiện đột ngột như một hung thần, không thể hiểu nổi. Nhiều người cho rằng, nó thực ra không có thật, mà chỉ là sản phẩm tưởng tượng của những đầu óc ưa phiêu lưu. Tuy nhiên gần đây, các nhà khoa học Anh đã tìm ra những bằng chứng khá thuyết phục về sự hiện hữu của sóng ma.

Năm 1978, con tàu chở dầu khổng lồ Munchen (Đức), một trong những con tàu lớn nhất thế giới, đã bị chìm bất ngờ. Nhiều người cho rằng, nó gặp sự cố kỹ thuật. Tuy nhiên, gần đây khi phân tích những mảnh vỡ của nó, các nhà khoa học Anh thấy rằng con tàu đã bị tấn công bởi một lực lớn khủng khiếp, ập từ trên cao xuống. Rất có thể đấy là một con sóng ma.

Trên thế giới hiện nay, cứ mỗi tuần lại có một con tàu nhỏ bị nhận chìm một cách hết sức khó hiểu. Nhiều nhà khoa học cho rằng, chúng đều bị tấn công bởi các con sóng ma đơn lẻ, đột ngột trồi lên từ đáy biển. Các bức ảnh chụp từ vệ tinh gần đây cho thấy, những con sóng ma này là hoàn toàn có thật.

Các nhà khoa học giải thích rằng, sóng ma xuất hiện trong những trường hợp đặc biệt, khi sóng thủy triều kết hợp với các cơn gió mạnh bất chợt, tạo ra một khu vực nhỏ "bất thường". Khu vực này nhanh chóng cuốn các con sóng "bình thường" khác vào nó, "nuốt" năng lượng của chúng để tạo ra một cột sóng lớn. Cột sóng này chỉ xuất hiện đơn lẻ, ào lên một lần rồi bị hóa giải ngay. Quá trình này xảy ra rất nhanh, khiến người ta hầu như không kịp phản ứng.

Việc nghiên cứu sóng ma rất có ý nghĩa, vì nó giúp các nhà khoa học thiết kế những con tàu có thể chống lại nó.

Mạnh Tùng
12-07-2007, 06:35 PM
Đột nhiên mặt đất rung chuyển, nhà cửa, cây cối nghiêng ngả như động đất. Những sinh vật thật lạ sử dụng các loại máy bay quay tròn trên những nóc nhà trong làng. Ở ngay khoảng đất trước nhà, “họ” đáp xuống và mở cửa khoang máy ra ngoài. Lúc đó, nỗi sợ hãi và khiếp đảm khiến em hoảng loạn. Nhưng khi bình tâm, em nhớ lại tất cả...

Đó là lời kể của em gái 13 tuổi Theodona về cuộc gặp gỡ với người ngoài trái đất trong hai trận cuồng phong xảy ra năm 1998 ở một làng nhỏ thuộc ngoại ô thành phố Shoumen (Bulgaria). Theo lời các cụ già trong làng, đó là hai trận cuồng phong kỳ lạ chưa từng có. Đất đá rung chuyển, nhưng không phải động đất, bởi động đất phải xảy ra trên một vùng rộng lớn chứ không phải chỉ trong phạm vi làng. Tuy nhiên, không ai trong làng nhìn thấy gì khác lạ cả. Ngoại trừ Theodona...

Theo sự mô tả của bé gái này, các nhà khoa học phỏng đoán, đó phải là cuộc viếng thăm của những cư dân ngoài trái đất, khi họ sử dụng phi thuyền dạng đĩa bay, có tốc độ rất lớn tương đương tốc độ ánh sáng (300.000 km/s) đáp xuống làng. Theodona kể rằng, "đám người lạ có nhiều hình thù khác nhau, có người giống như người Bulgaria với vóc dáng rất đẹp như thiên thần trong các truyện cổ tích, nhưng không ít người diện mạo dữ dằn như quỷ...".

Nhà khoa học vũ trụ Nga Valentin Phomenko đã sang Bulgaria tìm hiểu về "chuyện của cô học trò nhỏ vùng Shoumen". Sau một thời gian nghiên cứu, ông kết luận: "Bé gái Theodona thật sự có năng lực giao tiếp và nhìn rõ những các sinh vật lạ từ bên ngoài vũ trụ, trong khi những người khác ở Shoumen đã không có khả năng này". Theo Phomanko, điều đó có liên quan đến một năng lực đặc biệt, giúp Theodona đi vào thế giới thế giới 4 chiều đầy bí ẩn, vì vậy em đã nhìn thấy những hình ảnh mà người khác không thấy được".

Theo các nhà khoa học, não bộ của con người không thể tưởng tượng được không gian bốn chiều. Điều đó được giải thích như sau: Bạn hãy tưởng tượng các sinh vật ở không gian hai chiều. Chúng sống trên một mặt phẳng và không biết gì về sự hiện hữu của không gian ba chiều. Vì vậy, mọi di chuyển của chúng sẽ bị giới hạn trên mặt phẳng ấy và không thể tiến vào chiều thứ ba như chúng ta. Nếu một quả cầu lọt vào thế giới đó, các sinh vật hai chiều mới đầu sẽ nhìn một điểm sáng, rồi đến các hình tròn to dần lên, đến mức cực đại, rồi các hình tròn nhỏ dần, thu lại thành một điểm rồi biến mất. Kết quả là, chúng chỉ nhìn thấy những đường tròn mà không hiểu “toàn bộ câu chuyện về qủa cầu” ra sao cả!

Nhưng đôi khi, sinh vật hai chiều cũng có thể đạt tới điều kỳ bí. Ví dụ chúng muốn vượt qua khoảng cách từ A tới B trên mặt phẳng. Theo lẽ thường, thời gian cần thiết lên tới cả chục năm. Nhưng vì một biến cố nào đó, mặt phẳng kia bị cong lại trong không gian ba chiều, khiến điểm A và B trở nên gần nhau, thậm chí trùng lên nhau. Khi đó, điều kỳ diệu đã đến với chúng: khoảng cách chục năm sẽ đạt được chỉ trong phút chốc!

Phomeko giải thích, không gian ba chiều nằm trong cái nôi của không gian bốn chiều. Nếu ai có khả năng xâm nhập vào chiều không gian thứ tư, thì đối với anh ta, khoảng cách hàng vạn dặm, thậm chí hàng vạn năm ánh sáng không có ý nghĩa gì. Anh ta vượt qua trong phút chốc bằng cách đi qua khe hở của chiều thứ 4 này. "Khe hở" đó là biên giới ngăn cách hai thế giới, thế giới của không gian ba chiều và không gian bốn chiều. Đó chính là cơ hội để những sinh vật cấp thấp xâm nhập vào chiều thứ tư, như bé gái Theodona.