PDA

View Full Version : Những câu chuyện khó tin có thật - ANTG


tnh
04-03-2007, 05:18 PM
(An ninh thế giới cuối tháng)
Mình đã đọc và muốn cùng các bạn suy ngẫm.

Trong cuộc đời của mỗi người, ai cũng có những kỉ niệm hay những khoảnh khắc đáng nhớ trong những trang kỉ niệm của thời gian. Mỗi câu chuyện là một tình huống hay hoàn cảnh riêng và có không ít những trường hợp thuộc hàng “của hiếm”, đọc xong ta cũng chưa chắc đã tin vì thấy nó phi lý quá.



Đúng tạo hóa đã tạo ra những tình huống trớ trêu và đầy tính li kỳ, oái oăm… khiến chủ nhân của những câu chuyện đó rơi vào những tình huống dở khóc dở cười, có những tình huống kết thúc có hậu nhưng cũng không ít trường hợp kết thúc trong bi kịch đẫm nước mắt.



Nhưng dù thế nào thì những nhân vật của những câu chuyện đó đã dũng cảm và chia sẻ với chúng ta và những độc giả của báo An ninh thế giới cuối tháng những bài học hay cả những vết thương sâu thẳm trong lòng mình, để mỗi người chúng ta bồi đắp thêm những giá trị nhân văn ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người.



Tôi dám chắc không ít những câu chuyện đó có thể dựng thành phim thì sẽ ăn khách không kém gì những bộ phim tình cảm Hàn Quốc. Những câu chuyện này rất sâu sắc và đáng để suy ngẫm, chính điều đó cũng góp phần không nhỏ tạo nên sức hấp dẫn của tờ báo An ninh TG cuối tháng này.

tnh
04-03-2007, 05:22 PM
Người "chết đói trên đống vàng"
Đêm đêm, ông bò ra khỏi giường với hốc mắt người ốm như một bóng ma đến nơi ông giấu những đồng tiền. Ông đếm chúng với đôi mắt man dại. Ông từng khóc nức nở trước những đồng tiền và ngủ gục bên chúng. Vợ ông đã van xin ông hãy dùng những đồng tiền đó để thuốc thang, ăn uống. Nhưng không cái gì có thể lay chuyển được ông.

Kính thưa Tòa soạn Báo ANTG Cuối tháng!

Hồi bé tôi từng nghe các cụ nói: "Chết đói trên đống vàng". Tôi không hiểu câu nói đó. Sau đó khi hiểu thì tôi không tin trên đời lại có người phải chết đói trên đống vàng của mình. Nhưng rồi cuộc đời tôi được chứng kiến có người đã chết đói trên đống tiền của mình thật. Tôi không thể nào hiểu nổi vì sao người ta lại có thể sống như thế.

Tôi viết câu chuyện này và gửi đến Tòa soạn Báo ANTG Cuối tháng để góp thêm vào những "Chuyện khó tin nhưng có thật" của Báo mà tôi đã theo dõi từ câu chuyện đầu tiên. Nếu thấy câu chuyện tôi sẽ kể dưới đây không có ý nghĩa gì thì xin Tòa soạn cứ việc bỏ đi mà không cần phải hồi âm gì cho tôi cả. Tôi không viết như thế này bao giờ, cho nên chắc chắn sẽ có nhiều câu chẳng thành câu. Tôi xin Tòa soạn toàn quyền sửa chữa.

Ông V. là nhân vật chính trong câu chuyện tôi sẽ kể dưới đây. Ông V. ở cùng thị trấn với tôi. Cho đến bây giờ thì cả thị trấn vẫn lấy câu chuyện của ông để răn dạy con cháu nhiều điều. Ông có ba đứa con: hai trai, một gái. Vợ chồng ông làm nghề bán hàng nước và quà bánh ở thị trấn này từ khi tôi sinh ra. Nhưng ông nổi tiếng vì sự nghèo khổ của mình. Người trong thị trấn biết ông đều ngạc nhiên tự hỏi vì sao một người làm ăn cần cù như vợ chồng ông lại nghèo đến thế. Nhưng đúng ra là ông nổi tiếng vì cái sự mê tiền đến điên rồ của ông.

Thời học sinh đi học còn phải đóng học phí, ông luôn luôn tìm cách không đóng học phí cho ba đứa con. Hơn thế, ông còn thường xuyên viết đơn xin miễn học phí cho con. Cuối cùng, ông cho cả ba đứa con nghỉ học. Nhà trường và khu phố gặp ông để giải thích và động viên ông cho con đi học thì ông nói: "Rồi cũng chỉ đi bán hàng nước chứ làm gì mà phải học cho tốn tiền". Vì thế mà ba đứa con của ông đều trở thành những người thất học. Bất cứ việc gì liên quan đến tiền, ông đều tìm cách lẩn tránh. Không ai, kể cả ruột thịt của ông, có thể vay ông được một đồng. Cho đến khi đứa con thứ ba của ông bị ốm. Nếu ông bỏ tiền của ra lo thuốc thang cho con kịp thời thì con ông không trở thành một người tàn tật suốt đời.

Ông có tiền giấu trong nhà nhưng ông lại đi hỏi vay hết người này đến người khác. Ông sợ phải tiêu những đồng tiền của ông. Hậu quả của lòng tham lam và keo kiệt quá mức đã biến ông thành một kẻ độc ác. Trong khi đó, làng phố và những người họ hàng đã tìm cách giúp con ông chữa bệnh. Nhưng việc giúp đỡ như vậy cũng không thể kéo dài mãi mãi. Đứa con gái út của ông bị mù. Nếu ông không tiếc những đồng tiền của mình thì đứa bé không bị mù.

Ngày ấy, không nhiều người biết ông có tiền. Sau này, mọi người mới biết rằng chỉ có bà vợ của ông biết ông giữ những đồng tiền của mình như thế nào. Nhưng bà không thể làm được gì vì bà sống cũng chỉ như một người nô lệ trong gia đình mà thôi. Rồi đến lúc ông lâm bệnh, ông không chịu dùng những đồng tiền của mình để ăn uống, thuốc thang. Ông cam chịu tất cả để được nhìn thấy những đồng tiền.

Sau này, bà vợ ông đã kể cho tôi nghe những ngày đau ốm của ông. Một câu chuyện mà nếu tôi không sống cùng thị trấn với ông và ngày ngày gặp ông thì tôi cam đoan đó là một người điên. Đêm đêm, ông bò ra khỏi giường với hốc mắt người ốm như một bóng ma đến nơi ông giấu những đồng tiền. Ông đếm những đồng tiền với đôi mắt man dại. Ông từng khóc nức nở trước những đồng tiền và ngủ gục bên chúng. Vợ ông đã đêm đêm van xin ông hãy dùng những đồng tiền đó để thuốc thang, ăn uống. Nhưng không cái gì có thể lay chuyển được ông. Rồi ông chết. Bà vợ ông dù vô cùng nghèo khó nhưng cương quyết đốt những đồng tiền và bỏ tro vào trong áo quan cùng thi thể ông. Bà nói với tôi, bà đốt những đồng tiền vì hận ông và cũng vì sợ lòng tham tiền như thế có thể làm ông hóa thành ma về quấy nhiễu cuộc sống của bà và những đứa con nếu bà tiêu những đồng tiền đó của ông.

Câu chuyện bà đốt tiền là một câu chuyện kỳ lạ nhất ở thị trấn ngày ấy. Nhiều người cho rằng bà bị điên, bị ma ám. Nhưng sau này nghe chuyện ông V. giữ tiền như thế nào thì mọi người đều hiểu vì sao bà đã đốt toàn bộ số tiền ông V. cất giữ.

tnh
04-03-2007, 05:26 PM
Người tìm cha cho các con của mình
Khi biết mình không thể có con, cha tôi đã khuyên mẹ tôi nên có những đứa con do chính mình sinh ra, không nên nhận con nuôi. Và rồi mẹ tôi đã không thắng nổi bản năng của một người mẹ khi mà bố mẹ tôi vẫn rất yêu nhau và mẹ tôi đã khóc cạn khô nước mắt.

Kính thưa Tòa soạn,

Nhân đầu năm mới, là một bạn đọc thường xuyên của Báo ANTG Cuối tháng, tôi xin kính chúc anh chị trong Tòa soạn mạnh khỏe, chúc tờ báo mãi mãi hay. Trong lá thư này, tôi xin được kể cho các anh chị trong Tòa soạn cũng như độc giả nghe câu chuyện về gia đình tôi.

Tôi là con trai út trong gia đình. Trên tôi là một người chị gái. Cả hai chị em tôi đã trưởng thành và đã lập gia đình riêng. Năm năm trước, mẹ tôi mắc bệnh nan y và đã qua đời. Sau ba năm đoạn tang mẹ tôi và đúng vào ngày giỗ lần thứ ba của mẹ tôi, cha tôi đã gọi hai chị em tôi đến và bảo chúng tôi bình tĩnh để nghe ông nói một sự thật về gia đình chúng tôi. Sự thật đó là: cả hai chị em tôi đều không phải con đẻ của ông.

Cả hai chị em tôi bàng hoàng. Trong cuộc đời của mình, tôi gặp không ít những chuyện buồn phiền và bất ngờ, nhưng chưa có câu chuyện nào làm chúng tôi bàng hoàng đến như thế. Chờ chúng tôi trấn tĩnh, cha tôi trầm tĩnh kể cho nghe câu chuyện ấy. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không làm sao quên được và cũng không thể hiểu hết được vì sao cha tôi lại kể câu chuyện ấy một cách thanh thản và xúc động đến như vậy. Sau này, hai chị em tôi vẫn thường nói với nhau: phải vô cùng thương yêu mẹ tôi, thương yêu chúng tôi và nhân ái đến nhường nào với cuộc đời thì cha tôi mới có được tình cảm và thái độ như vậy đối với câu chuyện mà hầu hết mọi người rơi vào hoàn cảnh đó sẽ không làm như thế được.

Cha mẹ tôi lấy nhau thật hạnh phúc. Nhưng sau hai năm, mẹ tôi vẫn không có dấu hiệu của việc sinh đẻ. Mẹ tôi đi khám, bác sỹ khẳng định mẹ tôi không có vấn đề gì ảnh hưởng đến chuyện sinh đẻ của bà. Chính thế mà cha tôi tự động đi khám bác sỹ và cha tôi được các bác sỹ cho biết, chính cha tôi là người không có khả năng có con. Cha tôi vô cùng buồn bã trong một thời gian dài. Mẹ tôi động viên cha tôi và nói rằng sẽ tìm một đứa con nuôi. Nhưng thật bất ngờ khi cha tôi nói rằng việc sinh con, mẹ tôi vẫn có thể làm được. Mẹ tôi đã khóc và nói đừng nghi ngờ tình cảm của mẹ tôi đối với cha tôi. Nhưng cha tôi đã nói một cách nghiêm túc về chuyện sinh con của mẹ tôi. Cha tôi đã cố gắng cho mẹ tôi hiểu rằng, việc mẹ tôi sinh ra những đứa con là một việc quan trọng mà không ảnh hưởng gì đến tình cảm giữa hai người. Mẹ tôi đã chối từ làm điều ấy mặc dù rất khát khao có một đứa con do chính mình đẻ ra. Cũng từ đó mẹ tôi thường nằm mơ về trẻ con và thỉnh thoảng hát ru. Những điều đó bố tôi đều biết.

Nhưng cuối cùng mọi chuyện vẫn xảy ra như định mệnh mà mẹ tôi không làm sao chống lại được. Mẹ tôi có thai chị tôi. Khi biết mình có thai, mẹ tôi đã quỳ xuống lạy cha tôi mong ông tha thứ và xin được trở về nhà mẹ đẻ. Nhưng cha tôi đã lấy tình yêu thương và sự hy sinh vì ước muốn của mẹ tôi mà an ủi và che chở mẹ tôi. Tất cả những gì cha tôi dành cho mẹ tôi trong những ngày tháng đó làm cho mẹ tôi hoàn toàn tin tưởng vào tình cảm chân thành của cha tôi. Rồi hai năm sau, mẹ tôi lại sinh ra tôi. Dù đã cố gắng hiểu với cả trí tưởng tượng của mình, tôi cũng không làm sao hiểu được cha tôi đã sống như thế nào để mẹ tôi không thấy mặc cảm về chuyện sinh hai đứa con với những người đàn ông khác mà không phải với cha tôi. Từ lúc chúng tôi ra đời cho đến nay đã hơn 40 năm, chúng tôi luôn luôn sống hạnh phúc vì tình thương yêu của cha tôi. Có thể lòng tôi còn hẹp hòi nên tôi không thể hiểu được một người đàn ông đã yêu thương và nhân ái với một người đàn bà cùng những đứa con, khi bố đẻ ra chúng không phải là mình.

Kính thưa Tòa soạn,

Cho đến lúc này ngồi viết những dòng thư gửi cho Tòa soạn, chị em tôi cũng không tìm được đầy đủ lý do để hiểu được tấm lòng của cha tôi. Sau khi đoạn tang mẹ, cha tôi đã nói ra sự thật nguồn gốc của chúng tôi. Mẹ tôi đã có hai chị em tôi với hai người đàn ông khác nhau. Cha tôi nói cha tôi phải đi tìm hai người bố đẻ cho hai chị em tôi. Chị em tôi đã khóc lạy cha tôi đừng làm điều đó. Chúng tôi không còn nghĩ đến ai ngoài cha chúng tôi nữa. Cha chúng tôi là người cha nhân ái nhất trên cuộc đời mà chúng tôi đã may mắn có được.

Mặc dù chúng tôi đã van xin cha chúng tôi nhiều lần, nhưng ông vẫn quyết tâm tìm những người cha đẻ của hai chị em chúng tôi. Cha tôi nói, cho đến khi mẹ chúng tôi mất, cha tôi cũng không biết được ai là cha đẻ của chúng tôi. Khi chúng tôi đã lập gia đình riêng, cha tôi thường xuyên hỏi mẹ tôi về cha đẻ của chị em tôi. Nhưng mẹ tôi cương quyết không tiết lộ và chỉ nói rằng: mặc dù cha tôi đã hiểu và vô cùng nhân ái với ba mẹ con nhưng mẹ tôi cũng không bao giờ nói ra những người cha đẻ ấy. Mẹ tôi rất dằn vặt bản thân vì lý do mẹ tôi có con với những người đàn ông khác khi mẹ tôi vẫn sống cùng cha tôi.

Nhiều đêm mẹ tôi thường hoảng hốt như người bị bệnh tâm thần khi nghĩ đến chuyện ấy. Cha tôi đã làm tất cả để mẹ tôi được thanh thản và hiểu rằng chính cha tôi là người mong ước mẹ tôi sinh ra những đứa con và chính ông đã tìm mọi cách động viên, lý giải mẹ tôi để mẹ tôi làm việc đó. Nhưng mẹ tôi đã không bao giờ tha thứ cho mình. Mẹ tôi thường xuyên đau khổ và nói là mẹ tôi bị ma quỷ ám.

Có thời gian sau khi sinh chúng tôi, mẹ tôi rơi vào trạng thái của người mắc bệnh tâm thần. Cha tôi lại chăm sóc, an ủi và động viên mẹ tôi. Cũng đã nhiều lần mẹ tôi hỏi cha tôi rằng cha tôi là ai(?). Mẹ tôi không hiểu được cha tôi là ai và bây giờ chính chị em tôi cũng không hiểu cha tôi là ai. Nếu chỉ nói những gì cha tôi làm cho mẹ con chúng tôi vì lòng nhân ái và tình thương yêu lớn thì tôi thấy vẫn chưa đủ. Phải có một điều gì kỳ lạ mới có thể giúp cha tôi làm được những điều lạ lùng như thế.

Kính thưa Tòa soạn,

Mấy năm nay, cha tôi vẫn lặng lẽ đi tìm những người cha đẻ của chị em tôi. Chúng tôi vẫn van xin cha tôi đừng làm như thế vì trong máu thịt chúng tôi chỉ có cha tôi là người cha duy nhất. Chúng tôi đã quá hạnh phúc vì một người cha như thế và chưa một giây nào chúng tôi nghĩ phải đi tìm những người cha đẻ của chúng tôi. Nhưng cha tôi đã nghiêm khắc nói với chúng tôi là con người phải biết được nguồn gốc của mình.

Cha tôi nhớ lại những người quen cũ của mẹ chúng tôi và cha tôi cứ thế lần hỏi. Cha tôi đã gặp vài ba người đàn ông có quen thân với mẹ tôi hồi đó và hỏi họ. Nhưng chưa một người đàn ông nào nhận rằng họ là cha đẻ của chị em tôi. Cha tôi đã tìm mọi cách nói cho những người đàn ông mà cha tôi hy vọng họ là cha đẻ của chị em tôi về sự cần thiết như thế nào đối với chị em tôi khi họ biết được nguồn gốc của họ. Cứ thế, hết tháng này đến tháng khác, cha tôi bền bỉ đi tìm những người cha đẻ cho chị em tôi. Chúng tôi không bao giờ có một chút băn khoăn về những gì cha tôi làm cho chúng tôi. Nhưng sao chúng tôi vẫn cứ phải tự hỏi mình rằng cha tôi là ai mà làm được những điều như thế. Chẳng lẽ cha tôi là một Vị Thánh?

tnh
04-03-2007, 05:35 PM
Ai sẽ tha thứ cho tôi?!
Tôi đi lấy chồng, để lại đứa con côi cút lớn lên trong vòng tay của bà ngoại. Mẹ tôi đã dựng một ngôi nhà tranh vách đất sau vườn ở riêng để có điều kiện nuôi cháu. Tuy cuộc sống lúc đó rất khó khăn, nhưng tình thương của bà đã giúp cháu vơi đi phần nào nỗi khát khao hơi ấm của mẹ.

Tôi đã đọc rất nhiều câu chuyện khó tin nhưng có thật đăng trên Báo ANTG Cuối tháng, mỗi câu chuyện là một nỗi niềm riêng. Điều quan trọng là họ đã dũng cảm nói ra để mọi người cùng chia sẻ. Thưa quý Báo! Có một câu chuyện tự tôi đã gây ra, để rồi nó cứ đeo đẳng, giày vò tâm can tôi trong suốt hơn 13 năm nay. Tôi biết, sau khi đọc câu chuyện này, nhiều người nguyền rủa tôi mà nói rằng "kẻ gieo gió ắt phải gặt bão". Như thế cũng đáng lắm. Tôi chỉ mong rằng, sau khi kể ra câu chuyện này, tâm hồn tôi sẽ được thanh thản phần nào trong đoạn đời còn lại.

Tuổi thơ của tôi lớn lên giữa một vùng quê nghèo vào hàng nhất nhì huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Thời con gái, ai cũng khen tôi là "hoa khôi" của làng, nhưng cuộc sống sau này sẽ gặp nhiều bất hạnh và sóng gió. Tôi không tin đó là sự thật. Điều tôi cảm nhận được là thời thanh xuân, đã có rất nhiều người hiến dâng tình yêu cho tôi. Con trai trong làng cũng có mà ngoài làng cũng nhiều. Có những người chỉ vì muốn dành được tình yêu của tôi mà đã đánh nhau đến nỗi phải mang thương tích suốt đời.

Thời gian đầu, tôi thầm nghĩ đó là niềm hạnh phúc mà không phải người con gái nào cũng có được. Nhưng dần về sau, tôi cảm thấy đó là sự phiền toái đến khó chịu, nhiều khi phải chạy trốn để tìm một khoảng không bình yên cho riêng mình.

Thế rồi, hình ảnh của một người con trai đã chiếm trọn trái tim và cuộc đời tôi. Anh ấy ở cùng làng, hơn tôi 1 tuổi, nhà nghèo, mẹ mất sớm. Tôi đón nhận tình yêu của anh giống như một câu chuyện cổ tích. Chưa bao giờ anh đến nhà tôi chơi. Hai đứa chỉ gặp nhau lúc đi chăn trâu cắt cỏ, hoặc đi hái củi trên đồi. Anh bảo đã yêu tôi từ lâu, nhưng chỉ giữ kín trong lòng mà không dám nói, phần vì phận anh nghèo, phần vì có quá nhiều người hơn anh quan tâm đến tôi. Anh nói, chỉ khi nào tôi nhận lời lấy, anh mới ra mắt gia đình, không thì thôi. Chúng tôi đã yêu nhau say đắm trong một thời gian dài.

Nhưng rồi, một chiều thu trên đồi thông, anh nói, phải vào Nam làm thuê một thời gian kiếm tiền về trang trải nợ nần cho gia đình và còn là để có tiền cưới tôi. Lúc đấy tôi đã có thai được gần 2 tháng và tôi cũng nói luôn với anh. Anh không bất ngờ, ngược lại còn động viên tôi cố gắng giữ gìn sức khỏe, dù thế nào cũng phải giữ đứa con trong bụng.

Thời gian trôi đi, những lá thư, những cuộc điện thoại anh gọi cho tôi ngày càng thưa dần. Để mọi người không phát hiện ra mình có thai, tôi đã phải buộc bụng trong nhiều tháng.

Nhưng khi tôi mang thai được hơn 5 tháng thì được tin anh bị bệnh sốt rét và qua đời tại Đắk Lắk. Tôi suy sụp hoàn toàn, người như không hồn, xác xơ. Lúc nào tôi cũng khóc, khóc cho thân phận bèo bọt của mình, khóc cho đứa con chưa kịp sinh ra đã không còn bố, khóc cho sự tủi hổ với làng xóm.... và lúc đấy mẹ tôi mới biết chuyện. Nhà tôi có 4 anh em, mình tôi là con gái, bố tôi bị bệnh lao và qua đời khi tôi mới lên mười, chính vì vậy mẹ rất thương tôi. Tôi biết mẹ rất giận tôi, nhưng cũng thương tôi nhiều, bà không nặng nhẹ với tôi câu nào, chỉ vỗ về dỗ dành tôi ăn uống cho có sức để còn sinh cháu.

Tôi mang thai được 7 tháng thì đứa em trai cũng vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về. Khi biết tôi có thai, cả gia đình phản đối dữ dội. Em trai tôi chỉ thẳng tay vào mặt tôi: "Đồ đàn bà đĩ thõa. Họ này, nhà này nghèo thật, nhưng từ xưa đến giờ chưa có ai làm chuyện nhơ bẩn như thế". Mọi người bắt tôi phải "bỏ" đứa trẻ trong bụng đi nhưng không để dân làng biết. Nếu không thì tôi phải vĩnh viễn rời khỏi ngôi nhà này, đi đâu thì đi.

Đứng trước sự lựa chọn một bên là gia đình, một bên là giọt máu mà tôi đã hứa với anh nhất định để lại! Đã nhiều lần tôi định bỏ đi đến một nơi nào đó thật xa, nhưng lại không thể dứt áo ra đi, vì thương mẹ. Tôi biết, rồi đây, nếu tôi bỏ đi, bà sẽ sống một mình, các anh, em tôi lại dồn mọi uất hận lên đầu bà, trách bà không biết dạy dỗ, để con gái hư hỏng, làm cả gia đình xấu mặt với họ hàng làng xóm. Mỗi lần nghĩ vậy, tim tôi như bị ai xé ra từng mảnh, chỉ biết trách thân phận mình.

Mùa hè ở quê tôi nóng như ngồi trên chảo lửa. Tôi sinh cháu vào đúng cái giờ và ngày nóng nhất của mùa hè. Hôm đó cả gia đình đi đám cưới bên quê ngoại. Buổi sáng tôi bắt đầu nghe đau bụng trở dạ, nhưng vẫn cố chịu đựng. Đến khoảng 12 giờ trưa thì tôi sinh, một bé trai kháu khỉnh. Lúc đó tôi tính đưa nó ra ngoài góc vườn ngụy trang lại, định chờ đến lúc trời tối sẽ quay trở lại để đem thả xuống sông, nó sẽ được ai đó tốt bụng nhặt được mang về nuôi còn hơn là sống với tôi trong tình cảnh này. Không ngờ, khoảng 30 phút sau, chị hàng xóm phát hiện có tiếng khóc yếu ớt của trẻ con. Thế là chị ta kêu toáng lên khiến cả làng chạy ùa đến cứu đứa trẻ...

Đó là những ngày tôi sống trong nhục nhã và cô đơn. Không ai chịu nghe tôi thanh minh. Vì sợ tôi sẽ tiếp tục tìm cách giết con, nên mẹ tôi đã gửi nó đi một nơi nào đó rất xa, trong suốt một thời gian dài. Thời gian đó bà vừa lo cho tôi, vừa lặn lội nắng mưa đi nuôi đứa trẻ. Tôi ốm liệt giường và một hai đòi được chết cho lòng thanh thản, cho mẹ đỡ vất vả. Nhưng một lần nữa bà đã làm tất cả vì tôi. Bà bảo: "Nếu con chết đi thì mẹ sống với ai? Sau này con của con lớn lên định để cho cháu mồ côi cả cha lẫn mẹ hay sao?". Hai mươi tuổi, tôi như một bông hoa chóng lụi tàn. Người trong làng, từ già đến trẻ đều nhìn tôi với ánh mắt khinh bỉ; bạn bè tìm mọi cách xa lánh...

Thời gian qua đi, chuyện tày trời của một người mẹ độc ác, tàn nhẫn đối với con như tôi dần dần khép lại trong con mắt mọi người. Tinh thần tôi dần bình phục trở lại. Thế rồi có một người đàn ông 46 tuổi, góa vợ, ở xã bên đến ngỏ ý lấy tôi về làm vợ. Chẳng cần biết người đó là ai, tốt hay xấu, tôi đã chấp nhận về chung sống với anh. Tôi nghĩ, mình bây giờ như cánh bèo trôi, có một chỗ để bấu víu là tốt rồi. Hay ít ra, như thế thì tôi đã thoát cảnh hằng ngày phải đối mặt với không khí nặng nề, u ám trong gia đình và ở cái làng này.

Tôi đi lấy chồng, để lại đứa con côi cút lớn lên trong vòng tay của bà ngoại. Mẹ tôi đã dựng một ngôi nhà tranh vách đất sau vườn ở riêng để có điều kiện nuôi cháu. Tuy cuộc sống lúc đó rất khó khăn, nhưng tình thương của bà đã giúp cháu vơi đi phần nào nỗi khát khao hơi ấm của mẹ. Bà con trong làng hết lòng thương yêu và chở che cho cháu. Bây giờ, mỗi khi nghĩ lại, tôi lại thầm cảm ơn ông trời đã đối xử công bằng với cháu. Cháu học rất thông minh, năm nào cũng đạt học sinh tiên tiến xuất sắc của trường.

Từ khi về nhà chồng, cuộc sống vất vả, cực nhọc đủ bề đã làm sức khỏe của tôi bị suy kiệt, già đi nhanh chóng. Tôi đã xác định, dù nhọc nhằn đến đâu tôi vẫn chịu được và không bao giờ dám trách ai. Chồng tôi làm nghề buôn bán nên kinh tế có phần khá giả. Vợ anh ấy đã mất vì căn bệnh ung thư khi mới 35 tuổi. Anh ấy lấy tôi về làm vợ là muốn có một bàn tay người phụ nữ quán xuyến việc gia đình và nuôi 3 đứa con thơ sớm mồ côi mẹ. Khi chăm sóc bọn trẻ, tôi mới hiểu được con tôi đang cần tình thương của mẹ biết nhường nào. Tại sao tôi lại nỡ tàn nhẫn với giọt máu của mình như vậy?

Ba đứa con của chồng tôi bây giờ đã khôn lớn, đứa lập gia đình, đứa vừa vào đại học. Chúng coi tôi như mẹ đẻ của mình. Vợ chồng đã sống với nhau hơn 10 năm, nhưng anh ấy đối xử với tôi chẳng khác nào ông chủ với đứa ở. Mọi chi tiêu trong gia đình anh đều quán xuyến. Tôi đi đâu, làm gì đều phải nói cho chồng biết. Anh ấy sợ tôi trộm tiền, bớt của đưa về cho con riêng... Quan hệ vợ chồng về sau càng xấu đi, nhiều lần anh cố tình xúc phạm và nhắc lại quá khứ của tôi. Có lần tôi phản ứng lại, anh liền chỉ thẳng tay vào mặt tôi nói rằng: "Không có tôi, làm gì cô có cuộc sống sung sướng như hôm nay? Cô là loại đàn bà nhơ bẩn. Cô dám tự tay giết con mình thì không có chuyện gì cô không làm được...".

Năm nay, con tôi đã hơn 13 tuổi, cháu rất khỏe mạnh, sống hiền lành và ít nói. Từ ngày đi lấy chồng, mỗi khi có dịp đi qua, tôi lại tranh thủ ghé vào thăm cháu. Tôi đã dành dụm được ít tiền để sau này cháu có ít vốn nuôi thân. Tôi biết, rồi đây, cháu phải sống tự lập, bởi chỗ nương nhờ duy nhất là bà ngoại thì bà ngày càng già yếu và ốm đau luôn. Còn tôi thì chẳng bao giờ cưu mang được cuộc đời cháu. Mọi việc tôi giúp cháu là vì tình mẫu tử, và mong sau này cháu tha thứ và gọi tôi một tiếng mẹ trong ngọt ngào và âu yếm.

Lúc cháu còn nhỏ, thấy tôi về, nó vui lắm, cứ soắn suýt đòi quà, khiến tôi như được an ủi phần nào. Tôi định chờ cháu trưởng thành sẽ cho cháu biết về người mẹ thật của nó trong quá khứ. Nhưng cách đây gần một năm, lần tôi về thăm, thấy mặt cháu buồn rười rượi, hai hàng nước mắt cứ chảy dài trên gò má. Cháu không ra ngõ đón tôi như mọi khi, mà ngồi ủ rũ trong góc nhà, nhìn tôi chằm chằm rồi nói: "Tại sao mẹ lại không cho con được sống? Tại sao mẹ lại bỏ con cho bà để đi lấy chồng? Con ghét mẹ lắm, từ nay mẹ đừng về đây nữa". Câu nói của cháu đã làm tôi sụp đổ hoàn toàn. Sự sống của tôi vốn đang leo lét như ngọn đèn dầu, nay đã tắt lịm. Lúc đó, tôi không đủ can đảm để nói toàn bộ sự thật cho đứa con bé bỏng của mình.

Đã gần một năm nay tôi không dám trở lại thăm mẹ tôi và cháu. Một phần vì muốn cho con có một khoảng thời gian thanh bình để vơi đi vết thương lòng trong tâm hồn còn non nớt của một đứa trẻ, phần nữa tôi ốm liệt giường gần một năm nay. Mới đây khi đến thăm tôi, mẹ tôi bảo: "Từ dạo biết chuyện đến giờ, cháu ít nói hẳn, cứ lủi thủi một mình, không theo bà đi đám, đi giỗ như trước kia nữa. Hết buổi học, cháu lại đi bắt cua cả trưa nắng chang chang để tối về thả trúm. Làm được bao nhiêu đồng, cháu đưa cho bà hết". Kể chưa xong, mẹ tôi đã ôm tôi vào lòng khóc nức nở. Từ lâu, tôi đã khóc cạn nước mắt vì thương con một phần, thương mẹ mười phần.

Có lẽ không có sự ác độc nào trên thế gian này bằng việc làm của tôi đối với khúc ruột của mình. Cũng không có một nỗi bất hạnh nào bằng con oán mẹ. Không biết cuộc sống của cháu sau này sẽ trôi dạt về đâu khi không còn bà. Và khi đó, liệu nó có tha thứ cho tôi không? Chỉ mong cháu luôn là người tốt, đừng vì mẹ nó mà làm mọi người phải phiền lòng. Bệnh tình của tôi ngày một nặng thêm, sự sống sẽ không còn tồn tại được bao lâu nữa. Tôi chỉ mong những người phụ nữ đã, đang và sẽ làm mẹ đừng bao giờ làm chuyện bất nhân như tôi. Đó là nỗi ân hận không dễ tha thứ của một kiếp người

tnh
04-03-2007, 05:51 PM
Gửi hai người đàn ông của tôi
Đã bao nhiêu năm nay rồi, cuộc sống đối với tôi thuộc về một cõi khác. Nhiều khi tôi cũng không phân biệt được đó là hiện tại hay quá khứ, là đời thật hay những gì đã trải qua chỉ là một giấc chiêm bao? Có lẽ cuộc đời con người, khi trải qua quá nhiều biến cố, khi phải chịu đựng hơn những gì sức mình có thể chịu đựng nổi, người ta thường rơi vào một trạng thái gần như là vô cảm, với mọi buồn vui đau đớn vẫn diễn ra quanh mình.

Kính thưa các anh, các chị biên tập ở Báo ANTG Cuối tháng!

Tôi sinh ra và lớn lên ở một làng quê nghèo miền Trung.

Mười tám tuổi đã về nhà chồng trong niềm hạnh phúc vô bờ bến khi được làm vợ người con trai mà tôi hết lòng yêu thương. Cưới nhau tròn một năm, vì tiếng gọi khẩn thiết từ chiến trường miền Nam, chồng tôi xung phong nhập ngũ. Phải làm một người đàn bà thời chiến tôi đành phải gạt nước mắt vì việc nước.

Dịp đó, trong làng tôi có tới 8 thanh niên trai tráng khỏe mạnh tuổi độ mười chín, đôi mươi như anh cùng nhập ngũ. Nỗi buồn xa chồng trong tôi cũng vợi bớt vì được chia sẻ.

Trong ba năm đầu tiên, tôi thường xuyên nhận được thư của anh, trong thư anh nói anh rất tự hào vì đã được rèn luyện trong quân ngũ, được cống hiến cho lý tưởng Cộng sản cao đẹp.

Lá thư cuối cùng tôi nhận được từ anh là vào khoảng tháng 4/1972, anh báo tin sắp vào Nam, có khả năng anh sẽ vào chiến đấu ở Quảng Trị. Thế rồi từ đó, tôi hoàn toàn bặt tin chồng.

Tôi đã sống trong khắc khoải, chờ đợi và hy vọng. Không lâu sau đó, tôi nhận được giấy báo tử của chồng lúc vừa tròn 23 tuổi. Đau khổ và nước mắt đã làm cho tôi gần như suy kiệt.

Từ đó, tôi kiên quyết ở vậy thờ chồng, thờ mối tình đẹp đẽ ăn sâu vào máu thịt của tôi, vì một lẽ tôi không thể nào quên được anh ấy.

Cuộc đời có ai đọc được chữ ngờ.

7 năm sau kể từ ngày anh và 8 trai làng nhập ngũ, chỉ còn lại một người đàn ông duy nhất trở về trong đợt ấy.

Anh về nhà hôm trước, gia đình chưa kịp ăn mừng thì hôm sau anh đã sang nhà tìm tôi. Âu cũng là định mệnh khắc nghiệt. Khi anh xuất hiện ở cửa, tôi đã nhào ra ôm chầm lấy anh khóc nức nở. Tôi vừa khóc vừa gọi tên chồng tôi. Anh cứ để yên mặc cho tôi khóc, nước mắt đầm đìa trên ngực áo anh.

Chúng tôi không thể nói được gì hơn với nhau vào lúc ấy. Ở anh là sự sẻ chia không nói nên lời, còn ở tôi là một cảm giác đau đớn vì mất mát. Nỗi đau tưởng đã dằn sâu xuống đáy lòng ngủ yên mấy năm qua giờ lại bùng lên dữ dội.

Những ngày sau đó, thỉnh thoảng anh qua lại nhà tôi chơi, giúp những việc lặt vặt trong ngôi nhà thiếu bàn tay người đàn ông, động viên tôi nguôi ngoai nỗi buồn. Rồi điều gì đến cũng phải xảy ra.

Chính mẹ già của anh đã sang gặp tôi nói chuyện và xin hỏi cưới tôi về làm vợ anh. Cả gia đình anh, họ hàng anh và bên nhà tôi đều động viên tôi quên chuyện cũ để đi bước nữa. Lúc đó tôi mới chỉ 26 tuổi, lại chưa có con nên còn son rỗi.

Cảm động trước tấm chân tình của anh và gia đình anh, tôi đồng ý làm vợ anh.

Thực sự tôi đã như được tái sinh thêm lần nữa.

Cho dù anh là trai tân, lấy tôi thiệt thòi đã từng một đời chồng nhưng trái lại anh rất yêu tôi, thương tôi và chăm sóc tôi hết mực. Sự từng trải của những năm binh lửa đã tạo cho anh một tính cách trầm tĩnh, ấm áp và giàu tình yêu thương. Sống với anh, tôi được bù đắp những thiếu hụt.

Tôi trẻ ra, thịt da thắm hồng trở lại, mắt long lanh hạnh phúc. Nhìn thấy tôi rạng rỡ, anh vô cùng sung sướng. Vợ chồng tôi lại chan hoà bên nhau trong niềm hạnh phúc dẫu không thật trọn vẹn nhưng cũng thật ngọt ngào.

Những ngày tháng đầm ấm của chúng tôi ngỡ rằng từ đây không còn gì có thể chia cắt nổi, không ai tước đoạt được. Thế nhưng tạo hoá khéo cợt trêu, tơ duyên khéo đùa dai với số phận một người đàn bà khốn khổ và đáng thương như tôi. Chỉ 1 năm sau ngày tôi tái hôn, và cũng là 5 năm sau khi tôi nhận giấy báo tử, chồng tôi đột ngột trở về. Chuyện liệt sỹ trở về không còn lạ đối với một đất nước có chiến tranh.

Ngày chồng tôi trở về là một ngày tôi trở nên mê sảng và tê dại đi vì những cảm xúc đan xen. Tôi thực sự cũng không phân định nổi lúc ấy tôi hạnh phúc hay là tôi đau khổ, tôi sung sướng hay là tôi tuyệt vọng.

Chồng tôi, người tôi yêu thương, chờ đợi và đau đớn vì nghĩ rằng đã mất thì nay anh đột ngột trở về bằng xương bằng thịt. Niềm sung sướng kỳ diệu như bắt được một báu vật quá lớn so với trí tưởng tượng của mình chưa kịp tan ra trong tâm trí thì đã khựng lại bởi hoàn cảnh trớ trêu của mình.

Tôi chưa kịp chạy ào ra thì đã thấy ánh mắt chết sững bàng hoàng của người chồng hiện tại đang sống cùng tôi. Chao ơi, cuộc đời có hoàn cảnh nào trớ trêu hơn, cay nghiệt hơn thế.

Cho đến bây giờ, tôi luôn tự hỏi tại sao cuộc đời tôi lại phải trải qua những giây phút kinh khủng như thế. Tuyệt đỉnh của hạnh phúc nhưng cũng tận cùng của đau khổ. Hai cảm xúc đó cùng ập đến và cùng làm cho tôi tan nát hết cõi lòng.

Cả ba chúng tôi đã sống cùng một ngôi nhà trong tâm trạng khủng hoảng cùng cực như vậy một thời gian khá dài.

Có thể bạn đọc sẽ nghĩ rằng, trong tình cảnh hiện nay của cả 3 chúng tôi, thì một trong hai người đàn ông sẽ ra đi để nhường hạnh phúc cho người đàn ông còn lại.

Thật khó cho tôi và cho cả hai người đàn ông bởi lúc này tôi đã mang trong mình giọt máu của người chồng thứ hai. Cái thai trong bụng đã đến kỳ sinh nở, người chồng thứ hai của tôi không thể ra đi trong hoàn cảnh này. Còn với người chồng đầu tiên thì đây là nhà thực sự của anh.

Cả hai người đàn ông đều không một ai đả động đến chuyện ai phải ra đi, ai phải ở lại. Có thể sự từng trải trong chiến trường đã tôi luyện cho họ bản lĩnh và sự chịu đựng mọi gian khổ, mất mát, nhưng khi đứng trước người mình yêu thương, đứng trước hạnh phúc của chính mình, họ không cao thượng như những gì sách vở vẫn ca ngợi, họ thật hơn, trụi trần hơn và đời thường hơn khi cả hai không ai muốn mất đi hạnh phúc mà mình đang cầm nắm trong tay.

Có lẽ, đó là bi kịch cay nghiệt nhất mà số phận đã định đoạt. Còn tôi, tôi không thể tự quyết định được vì tôi đã là vợ của hai người đàn ông. Tôi còn biết làm gì hơn là chờ đợi một sự phán quyết từ họ.

Thế rồi tôi sinh con, cả hai người đàn ông đều cùng nhau chăm sóc tôi và cháu bé. Cuộc đời tôi chưa bao giờ phải trải qua những giây phút đau lòng và chịu đựng hơn đến như thế. Nhìn hai người đàn ông yêu tôi gầy rộc đi vì suy nghĩ, vì bất lực không thể đi đến một quyết định đã làm cho tôi gần như phát điên lên vì áp lực.

Đau lòng hơn, đứa bé sinh ra không nuôi được, bác sỹ bảo rằng do 3 tháng cuối của thai kỳ tôi bị ảnh hưởng bởi những chấn động tâm lý dữ dội. Khi sức khỏe của tôi đã hồi phục trở lại, chồng cũ của tôi đã đề nghị người chồng thứ hai của tôi nên ra đi và tìm hạnh phúc khác. Bắt đầu từ đó là một chuỗi ngày cả hai người đàn ông giận dỗi nhau, dằn hắt và trách móc nhau.

Một năm trời tôi sống trong chịu đựng và đau khổ vì không ai chịu nhường tôi cho ai. Có những lúc tôi đã tính đến chuyện ra đi một mình cho thanh thản. Tôi không có quyền lựa chọn ai, cũng không có quyền trách móc ai trong số hai người chồng của tôi. Tôi hiểu con người có quyền ích kỷ trước tình cảm riêng tư của mình.

Cuối cùng thì sau những trách móc, dằn hắt, người chồng thứ hai của tôi quyết định ra đi. Anh về lại nhà bố mẹ đẻ để nhường tôi cho chồng cũ.

Tôi như trút được một gánh nặng đau khổ. Vợ chồng chúng tôi đoàn viên với nhau trong niềm hạnh phúc ngọt ngào nhưng cũng đầy chát đắng. Tôi đã khóc rất nhiều, tôi không biết tôi yêu thương người đàn ông nào nhiều hơn người đàn ông nào nữa.

Người chồng thứ hai của tôi ở nhà được mấy tháng thì xin phép gia đình đi vào miền Nam lập nghiệp. Tôi biết anh không thể sống trong cùng một làng để ngày ngày nhìn thấy vợ chồng tôi hạnh phúc. Anh ra đi lặng lẽ, không đến từ biệt vợ chồng tôi.

Cuộc đời vẫn chưa hết trớ trêu khi tôi và chồng tôi không thể nào có con được với nhau. Tiếp tục 7 năm mỏi mòn chờ đợi, bao khát khao đều biến thành vô vọng.

Rồi vợ chồng tôi đưa nhau đi khám, anh gần như suy sụp tinh thần khi biết do vết thương chiến tranh tác động, anh không thể có con. Lúc này cả tôi và anh đã bước sang tuổi 35, thời gian không còn nhiều nữa đối với người đàn bà như tôi. Cuộc đời tôi đến lúc này mới là đỉnh điểm của bi kịch.

Chồng tôi sau một thời gian suy nghĩ dằn vặt đã lại quyết định ra đi tìm người chồng thứ hai của tôi để khuyên anh trở về xây dựng hạnh phúc của tôi.

Ngày ra đi, anh ôm lấy tôi mà khóc: "Em ơi, anh đã làm em khổ quá nhiều rồi, anh xin lỗi. Cách duy nhất để giúp anh chuộc lại lỗi lầm, làm bớt đi nỗi đau khổ trong em do anh gây ra là anh phải ra đi. Nếu tìm được Thìn (tên chồng thứ 2 của tôi), anh sẽ cúi lạy Thìn xin anh ta trở về với em. Nhược bằng Thìn đã có gia đình rồi, anh cũng không trở về đâu. Em vẫn còn trẻ, còn cơ hội để làm lại cuộc đời. Em phải có con, đàn bà không có con bất hạnh lắm".

Từ đấy đến nay, đã 15 năm trôi qua, cả hai người đàn ông của tôi không một lần trở lại với tôi. Tôi không biết họ đi những đâu, làm những gì, trong số họ có ai tìm được hạnh phúc cho mình chưa. Tôi biết đời mình bất hạnh nhưng tôi không hề lụy trách hai người chồng mà tôi đã hết lòng yêu thương họ, cũng không thể tự trách mình. Tôi chỉ biết trách ông trời, trách tạo hoá sao nỡ cợt trêu tôi đến vậy.

tnh
05-03-2007, 05:42 PM
Những người mẹ của tôi
Ngày cải cát và đưa mẹ hai về nơi yên nghỉ của bố tôi cùng hai mẹ tôi, chúng tôi quyết định mở chiếc lọ bít nhựa thông mà đã chôn cùng với bà trong 3 năm qua. 3 chiếc lọ to nhỏ ***g vào nhau được thận trọng đập vỡ, bên trong là 2 tờ giấy khô nguyên, sạch sẽ.

Thưa Tòa soạn!

Cha tôi sinh năm Giáp Dần (1914), người đàn ông cứng rắn, quyết liệt và cơ mưu. Có lẽ đó là di truyền của mấy đời cụ, ông nội tôi danh giá, khoa bảng. Nó cũng là kết quả của sự kết hợp giữa Nho giáo khắt khe và Pháp học duy tân.

Dòng họ tôi vốn dĩ đã nổi tiếng với nghề thuốc Nam gia truyền. Nghề và những gì vinh hoa mang đến đủ cho gia đình chúng tôi tạo cho mình bản sắc riêng biệt trong cái mặt bằng chung bùn lấm quê mùa. Bố tôi là con trưởng, ông là người kế tục nghiệp thuốc tổ tông (hiện nay anh trưởng tôi vẫn đang làm nghề và vẫn được đánh giá cao về y thuật), 25 tuổi ông đã tốt nghiệp tú tài và toàn tâm cho nghề dạy học. Vốn là người được học hành tử tế nên quan niệm của bố tôi không đến nỗi lạc hậu. 33 tuổi, ông cưới mẹ già tôi, người vợ thua ông 12 tuổi, con một doctor được giáo dục tử tế. Đó là người mẹ mà anh chị em chúng tôi chỉ được biết qua di ảnh, nhưng theo mọi người trong họ tộc thì đó là người phụ nữ đoan trang và đức độ. 5 năm sau, chị gái tôi ra đời, bố tôi vì công việc kháng chiến phải xa nhà, mẹ già tôi bị hậu sản, mất năm bà 28 tuổi, khi đó chị gái tôi mới 1 tuổi rưỡi.

Đúng lúc này, gia đình tôi gặp hạn, nhà bị cháy cùng với toàn bộ tài sản. Một mình gà trống nuôi con, gánh vác gia đình tám miệng ăn. Đến tận giờ phút này, tôi vẫn không tưởng tượng được gia đình tôi đã sống như thế nào với hai cái sanh đồng, nồi đất và 12 cái bát mẻ trong sự miệt thị của người đời. Hai năm sau, bố tôi tục huyền với mẹ hai tôi, một phụ nữ học hết bình dân học vụ, ba đời trong sạch. Hai năm sau vẫn chưa có con, bố tôi lấy tiếp mẹ đẻ tôi, một người đàn bà lam lũ, đọc chưa thông, viết chưa thạo. Bố tôi, hai người vợ cùng chèo chống con thuyền tròn chục mạng sống để làm lại cuộc đời. Một điều kỳ lạ, bố tôi có hai bà vợ sống cùng và họ không bao giờ cãi vã nhau. Chị tôi đã lớn lên trong tình thương yêu của ông bà, bố, chú thím và đặc biệt là hai bà mẹ kế, họ đã coi chị như con ruột của mình.

46 tuổi, bố tôi có con trai đầu lòng, người sinh quý tử cho gia đình tôi không phải là mẹ hai mà là mẹ đẻ tôi. Không biết mẹ hai tôi có buồn không, nhưng bù lại bà đã gồng mình lên để kiếm sống không kể sự vất vả nào. Bà đã đổ cả mồ hôi và máu của mình chắt chiu cho tình yêu thương chồng, gia đình chồng, con chồng và cả kẻ "chia chăn gối" với mình.

Trời có mắt, một năm sau, mẹ hai tôi sinh anh trưởng tôi, phúc trùng lai, như là công bằng, là phần thưởng của hóa công. Gia đình tôi lại mua được nhà đất, cuộc sống của chúng tôi đang hồi sinh cùng niềm vui con cái và cả lòng vị tha. Ông nội tôi lại có cơ hội mang y thuật tài danh của mình để độ đời.

Những tưởng tai ách đã qua thì bất ngờ mẹ hai tôi bị tai nạn trong một lần đi rừng, anh trưởng tôi chưa đầy 2 tuổi. Khi người ta mang mẹ tôi về, gia đình đã mua sẵn cỗ áo quan. Còn nước còn tát, ông nội và bố tôi đã mang hết cả ngón nghề để vãn hồi sự sống của mẹ hai tôi. Và không ai có thể ngờ phép màu đã đến. Mẹ hai tôi tỉnh lại sau 2 tháng thoi thóp. Một năm bà lành bệnh nhưng sau 2 tháng lại mất một con mắt và mất lớn hơn là mẹ hai tôi đã vĩnh viễn không thể tiếp tục sinh nở.

Trong khi mẹ hai tôi ốm, mẹ đẻ tôi lại phải gồng mình lên với tai họa và mưu sinh. Cũng như mẹ hai tôi, mẹ đẻ tôi dành cho chị, hai anh tôi trọn vẹn tình yêu thương của mình. Với mẹ hai, mẹ đẻ tôi nâng giấc lo toan như mẹ, như chị em ruột thịt.

Họa hạn tựa như sóng dữ chực chờ giằng xé gia đình tôi, nhưng thành lũy của nền tảng giáo dục đặc biệt là lòng vị tha, nhân hậu, thủy chung, trong sáng đã chiến thắng. Trong đau khổ, hoạn nạn, hai người vợ của bố tôi từ cảnh "kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng" đã thấu hiểu yêu thương, gắn bó với nhau đến thế. Hơn chục năm sau, mẹ tôi sinh thêm ba anh em tôi, tất cả đều được lớn lên trong lời ru, cơm mớm, cơm đút của hai bà mẹ.

Rất nhanh chóng cùng với tài năng của ông nội, bố tôi, sự kiệm cần, chu đáo của hai mẹ tôi, gia đình chúng tôi lại trở nên khá giả, mọi thứ đủ đầy. Ông nội và bố tôi lại thỏa chí tang bồng với thú chơi đồ cổ, chim cá, bon sai...

Thưa các anh chị! Những gì tôi viết trên đây phần lớn là do được nghe kể lại, nhưng những gì xảy ra tiếp theo thì tôi và gia đình chỉ được biết khi cả bố, 3 bà mẹ của tôi đã cải cát và họ được ở bên nhau trong nghĩa trang nhỏ của gia đình.

Năm 1976 ông tôi mất, đó là người cuối cùng trong lớp người cũ. Bố tôi cũng đã già nhưng nghề thuốc của gia đình lại rất thịnh vượng. Nhưng có lẽ tai họa vẫn chưa buông tha chúng tôi và giờ đây mới thực là khốc liệt.

Năm 1982, mẹ tôi 51 tuổi, 51 tuổi bây giờ như các anh, các chị thấy vẫn váy áo, xe máy đi vù vù. Mẹ tôi đi chùa, chăm chỉ học kinh kệ. Bất ngờ mẹ tôi ốm, không ăn, nằm liệt giường và chỉ uống nước chè xanh. Lúc này các chị, anh tôi đều đã thành đạt và đã có chồng vợ. Bố tôi, chị dâu tôi (là bác sĩ) hết lòng thuốc thang. Một tuần, mười ngày, một tháng... tất cả đã tuyệt vọng. Mẹ tôi chỉ còn da bọc xương, chỉ uống nước chè xanh nấu nước mưa và chờ chết! Cả gia đình tôi đau đớn tuyệt vọng và suy sụp nhìn mẹ tôi đang tỉnh táo mà chết dần chết mòn, vô phương cứu chữa. 51 ngày sau mẹ tôi mất, trước khi chết một tuần, rất minh mẫn mẹ đẻ tôi gọi riêng bố và mẹ hai tôi trăng trối và đưa cho họ một chiếc lọ màu gắn đầy nhựa thông 2 lớp. Tôi mồ côi mẹ khi 13 tuổi. Cả gia đình tôi chống chếnh, bố tôi ốm liệt cả tháng trời, chúng tôi còn nhỏ dại, trứng nước. Tất cả mọi việc dồn hết lên vai mẹ hai tôi: đồng áng, cơm nước, lo toan việc nhà, chăm lo anh em tôi v.v... Bệnh tim của bố tôi đúng lúc này lại phát tác. Dường như đoán được vận mình, ông dành hết thảy tình yêu cho chúng tôi, mua đất, viết di chúc và truyền dạy y thuật cho anh trưởng tôi.

Cuối năm 1986, bố tôi mất vì bệnh tim. Trước phút lâm chung, ông cũng đã gọi riêng mẹ hai tôi dặn dò và trao gửi cho bà chiếc lọ bí mật mà trước khi chết mẹ đẻ tôi đã trao cho hai người. Cột buồm chính trên con thuyền gia đình tôi đã bị bão đời đánh gãy. Mẹ hai tôi đơn độc với đàn con thơ dại. Năm đó tôi 17 tuổi, em út tôi 13 tuổi.

Tôi vào học Đại học Tổng hợp, anh thứ 3 học Đại học Bưu chính viễn thông. Cơm áo, gạo tiền dồn cả lên đôi vai mẹ hai tôi. Chưa bao giờ bà nặng lời, than thân, trách phận trước mặt anh em chúng tôi. Tuần tuần, tháng tháng đều đặn anh em tôi vẫn nhận được sự chu cấp đầy đủ học phí, gạo tiền v.v... Chẳng giáo điều, cao siêu, bà thật giản dị khuyên răn chúng tôi: "Đời mẹ khổ bởi lẽ thất học, hãy nghĩ đến bố mẹ, cố gắng mà học hành. Đừng phụ công, phụ lòng của mẹ". Chỉ thế thôi với chúng tôi đã là quá đủ cho ý thức sống và học tập.

Anh ba tôi đi làm, tôi học năm cuối, em út tôi thi đỗ vào trường sỹ quan quân đội tại Nha Trang. Ngày tiễn em tôi, bên mâm cơm cúng gia tiên mẹ hai tôi đã khóc trong hạnh phúc. Khoản lệ phí bà cho em tôi đi học cũng là khoản tiền bán nốt chiếc dây xà tích, kỷ vật của bà ngoại cho mẹ khi đi lấy chồng.

Quả không thể tin được bởi chúng tôi những tưởng mình được ăn học bằng số tiền bố tôi để lại, nhưng không. Mẹ hai tôi đã làm việc cật lực, chăn lợn, nuôi gà bữa đói bữa no nhưng bà đã bán đi tất cả những gì là của riêng mình: hoa tai, vòng xuyến, cả mồ hôi và nước mắt của mẹ để anh em tôi khôn lớn. Bà công khai số tiền bố tôi để lại và dùng nó vào việc lo lắng cuộc sống tương lai của anh em chúng tôi. Thưa các anh, các chị! Có lẽ phúc lộc gia đình tôi hãy còn nên cùng với điều kiện chung của xã hội, anh em chúng tôi đã được học hành, có công ăn việc làm ổn định. Mẹ hai tôi đã được thảnh thơi khi tóc bạc, lưng đã còng!

Gia đình lớn của tôi giờ đã chia thành nhiều gia đình nhỏ, người ở quê, người đi xa lập nghiệp, nhưng không riêng gì anh chị em chúng tôi mà tất cả những con dâu của bà, những người được đích danh mẹ hai tôi cưới hỏi đàng hoàng, đều không thể quên được ân đức của mẹ. Từ buổi đầu làm dâu, ý ăn, nết ở, từ sinh nở dạy dỗ con cái đến mua đất xây nhà, chúng tôi đều được mẹ chỉ dạy đến nơi đến chốn. Năm 2001, mẹ hai tôi về với tổ tiên trong sự đề huề của con cháu và họ mạc. Mẹ hai tôi dặn hãy chôn theo mình chiếc lọ bít nhựa thông, nó chỉ được mở ra khi cải cát cho bà, nếu cần thì có thể chôn theo bà vĩnh viễn. Chúng tôi đã làm theo di nguyện của mẹ.

Cuối năm 2004, chúng tôi cải cát cho mẹ và đưa bà về nơi yên nghỉ của bố tôi cùng hai mẹ tôi. Họ đã được sum vầy nơi hoàng tuyền sau tất cả những khổ đau, đày ải mà cuộc sống đã bắt họ phải trải qua cũng như những hạnh phúc, thành công của đời người tác hợp với trần thế.

Thưa các anh, các chị! Có lẽ giờ đây mọi chú ý đã được dồn đến bí mật, được giấu kín trong chiếc lọ kia, chiếc lọ đã có hành trình dương gian - âm phủ.

Tháng 4 vừa qua, giỗ mẹ đẻ tôi - người đã trao di vật cùng di nguyện bí mật, anh em tôi quyết định mở chiếc lọ đó ra. Không phải là 1 mà là 3 chiếc lọ to nhỏ được ***g và đổ kín nhựa thông. Thận trọng đập vỡ, trong lớp lọ cuối cùng vẫn còn 2 tờ giấy khô nguyên, sạch sẽ. Tất cả chúng tôi trào nước mắt trong khói hương và sâu thẳm thiêng liêng. Anh trưởng tôi run run lần giở từng tờ. Tờ thứ nhất: Kết quả xét nghiệm của Bệnh viện Da liễu Trung ương mang tên mẹ đẻ tôi, ký ngày... tháng 12 năm 1982 với kết luận: Mẹ tôi bị nhiễm khuẩn Asen (gây bệnh phong, bệnh hủi). Tất cả chúng tôi chết lặng! Tờ thứ hai: Thư của mẹ chúng tôi viết cho các con.

"Các con yêu quý của mẹ!

Mẹ bị hủi, căn bệnh bất khả chữa trị và bị người đời ruồng bỏ. Vì nghiệp tổ của gia đình và vì tương lai của các con mẹ chỉ có một con đường là tìm đến cái chết. Mẹ chỉ nói với bố và mẹ T (mẹ hai tôi) về bệnh tình của mình khi nào mẹ sắp chết. Hãy tha tội cho mẹ! Mẹ luôn phù hộ cho các con! Mẹ của các con!".

Trời ơi! Tất cả chúng tôi đã chết lặng, vỡ òa trong nức nở và nước mắt. Sự thật lại phũ phàng đến vậy sao? Bây giờ thì tôi đã hiểu tại sao bố tôi, mẹ hai tôi lại đau đớn đến thế khi mẹ tôi mất, vì sao cái chết của mẹ tôi đã đánh quỵ được một con người bản lĩnh và cứng rắn như bố tôi!

Thưa các anh, các chị! 23 năm sau, một thế hệ đã lớn lên, một bí mật được coi là tai họa đã được làm sáng tỏ. Quá bi thương! Một cái chết, một cách giải quyết bế tắc mà tỉnh táo đến lạnh lùng, tàn nhẫn. Một sự im lặng tuyệt đối để hy sinh, để dâng hiến với kỳ vọng vào tương lai tốt đẹp cho đại gia đình chúng tôi. Quá xót xa! Lẽ ra đừng vì cả những toan tính, vàng chìm, bạc nổi mà chúng tôi để bí mật này theo vào hư vô thì hay biết bao. Mọi việc cũng đã rồi, âu cũng là thiên định!

Thưa các anh, các chị! Chuyện của gia đình tôi lẽ ra phải vĩnh viễn chôn vùi, song lại được tiết lộ, lẽ ra chỉ được biết trong gia đình thì nay tôi lại viết thư kể với các anh, các chị. Tôi cứ giày vò mãi với ý nghĩ viết hay không viết và tôi đã viết, đã đọc cho các anh chị em nghe để cùng tạ tội với người nơi chín suối. Tôi không có tham vọng biến chuyện gia đình mình thành "đặc sắc" vì tôi quan niệm đó là nhân sinh quan của con người trong những biến thiên bất khả kháng của cuộc đời và số phận. Nhưng hơn hết thảy là đức hy sinh đến tận cùng (cho dù vô cùng cực đoan) tình thương yêu, lòng tin và sự thủy chung như nhất. Như tôi đã từng nói từ đầu đó là bài học, là di vật "gia bảo" của gia đình chúng tôi. Vì vậy chúng tôi đã chấp nhận được sự thật đau lòng, đã không hủy đi mà cất kỹ cùng cuốn gia phả để trang trọng trên bàn thờ, trang trọng cùng di ảnh của cụ, ông bà, bố, các mẹ của tôi, trầm mặc trong khói hương, lung linh, ảo huyền như thật, như mộng vậy.

Trân trọng chúc sức khỏe các anh, các chị!

Kính thư
Lê Hoàng Nhật Bảo

tnh
05-03-2007, 05:43 PM
Một giọt máu đào hơn ao nước lã
Tất cả những người có mặt hôm đó bàng hoàng như nghe một câu chuyện hoang đường. Hóa ra, anh B và anh H là hai anh em ruột thật. Họ làm cỗ mời hàng xóm đến mừng cho họ đã nhận anh nhận em. Sau khi anh B thưa chuyện xong, hai anh em họ ôm nhau khóc.

Kính thưa Tòa soạn,

Tôi băn khoăn không biết câu chuyện tôi kể lại sau đây có phải là chuyện khó tin có thật không(?). Nhưng tôi nghĩ câu chuyện này sẽ nhắc nhở con người sống với con người phải bằng tình thương yêu, sự chia sẻ và hiểu biết. Nếu không thì chúng ta sống để làm gì. Chính vì thế mà tôi cứ mạnh dạn viết thư kể với Tòa soạn câu chuyện đó.

Mươi năm trước đây, tôi có mua một mảnh đất ở ngoại thành và xây nhà ở đó. Sau khi dọn về sống ở ngôi nhà mới, có một điều làm tôi vô cùng ngạc nhiên. Đó là chuyện hai người hàng xóm của tôi giống nhau như hai giọt nước. Lúc đầu, tôi đinh ninh đó là hai anh em ruột. Người anh tên là B và người em tên là H.

Một lần sang nhà anh B chơi, tôi hỏi anh là có phải anh với anh H là hai anh em ruột không. Anh B nhếch mép cười và bảo không phải dù hai người rất giống nhau. Lúc đầu, tôi nghĩ anh B nói đùa chứ không phải anh em ruột sao lại giống nhau như vậy. Về sau, tôi tìm hiểu mới biết hai người mang hai họ khác nhau. Một người họ Trần và người kia họ Nguyễn. Nhưng tôi không thoát khỏi nỗi ám ảnh của sự giống nhau không thể tưởng tượng nổi của hai người. Không chỉ riêng tôi mà nhiều người hàng xóm cũng nhiều lần nhầm hai người với nhau. Nhiều lúc hàng xóm đùa là hai người nên hỏi mẹ của họ xem nguồn gốc họ sinh ra như thế nào. Biết đâu cả hai người lại chẳng có một ông bố chung thì sao. Vì hai người cũng mới dọn đến ở đó trước tôi vài năm. Anh B đến trước và sau đó một hai năm thì anh H cũng đến tìm mua đất và xây nhà ở đó, cho nên chúng tôi cũng không được biết rõ lai lịch của cả hai người.

Suốt mấy năm sống cùng xóm với họ, chúng tôi thấy họ đối xử với nhau đúng là những người hàng xóm thông thường như mọi người khác. Dần dần tôi cũng quen đi với sự giống nhau đến lạ lùng ấy. Tuy nhiên đôi lúc, tôi vẫn cười một mình vì thấy trên đời có những sự ngẫu nhiên đến kỳ lạ.

Mọi chuyện tưởng cứ thế trôi đi cho đến một ngày tôi được anh B mời sang ăn cỗ. Tôi hỏi anh nhà có việc gì mà làm cỗ mời hàng xóm. Anh B chỉ cười và nói có chuyện muốn thưa với hàng xóm. Mặc dù không biết lý do được mời ăn cỗ nhưng chúng tôi vẫn đến theo lời mời của anh B. Hôm đó, tôi nhận thấy tất cả vợ con của anh H đều sang nhà anh B giúp làm cỗ từ sớm và nhìn ai cũng thấy rất vui. Khi khách mời đã đến đông đủ và cỗ bàn đã được bày ra, anh B đứng ra giữa nhà chắp tay và xin thưa chuyện với hàng xóm. Tất cả những người có mặt hôm đó bàng hoàng như nghe một câu chuyện hoang đường. Hóa ra, anh B và anh H là hai anh em ruột thật. Họ làm cỗ mời hàng xóm đến mừng cho họ đã nhận anh nhận em. Sau khi anh B thưa chuyện xong, hai anh em họ ôm nhau khóc. Đến lúc đó, những đứa con của hai anh mới biết chúng là anh em con chú con bác với nhau.

Vì sao lúc đó họ mới nhận nhau là anh em cùng cha cùng mẹ? Phải chăng họ là anh em ruột thịt nhưng không hề biết nhau trước đó? Không phải như thế. Họ đã cùng sống với nhau từ bé. Nhưng khi lớn lên trở thành những thanh niên thì họ đã từ nhau. Câu chuyện thật đau lòng và thật xúc động. Câu chuyện ấy bắt đầu từ một người con gái. Người con gái ấy sau này trở thành vợ anh H bây giờ.

Chị S, vợ anh H, chính là một người bạn cùng lớp nghiệp vụ của tỉnh với anh B. Anh B đem lòng yêu chị S. Nhưng chị S chỉ coi anh B như một người bạn thân. Trong thời gian cùng học ở trường nghiệp vụ, chị S đã cùng một hai người bạn khác có dăm ba lần về nhà anh B chơi. Chính ở đó, chị S đã biết anh H và hai người đem lòng yêu nhau. Trong khi đó, anh B vẫn âm thầm yêu chị S mà không biết chị S và em trai mình đã yêu nhau. Vì nhiều điều ý tứ, cả anh H và chị S cũng không dám nói thẳng với anh B về chuyện riêng tư của họ mặc dù họ cũng bằng cách này hay cách khác muốn anh B nhận ra điều đó. Thế rồi, anh H báo cáo với cha mẹ về chuyện yêu đương của mình và xin mẹ cho phép anh H được tiến hành lễ cưới với chị S (vì cha của họ đã mất sớm). Anh B bàng hoàng và vô cùng đau khổ khi biết tin ấy. Anh B đã nguyền rủa anh H cướp người yêu của mình. Anh B nói với mẹ về em trai mình và chị S với những điều vô cùng tệ hại và xấu xa. Bà cụ thân sinh ra hai anh đã gọi anh H và chị S đến để hỏi cho rõ ngọn ngành câu chuyện. Khi hiểu đúng sự việc, mẹ anh H đã đồng ý cho hai người tổ chức lễ cưới. Bà cũng khuyên giải anh B. Nhưng anh B vẫn giữ mối hận với người em trai của mình. Cũng từ ngày đó, anh B đã bỏ nhà ra đi với một lời tuyên bố không bao giờ nhận anh em với anh H nữa. Vì nghĩ mẹ đã cố tình đứng về phía anh H mà phản đối thái độ của mình, anh B tuyên bố không mang họ Nguyễn nữa và đổi sang họ Trần.

Sau khi cưới chị S, anh H và vợ đã đi tìm anh B. Khi biết anh B sống ở đâu thì vợ chồng anh H đã chuyển nhà đến gần nhà anh B. Thấy vậy, anh B lại chuyển nhà đi nơi khác. Nhưng vợ chồng anh H không hề nản chí. Họ cứ đằng đẵng đi theo anh B. Cuối cùng, anh B chuyển đến ở khu ngoại thành. Anh H cũng bán nhà trong phố để đi theo anh mình. Bao nhiêu lần anh H đã khóc và nói với anh B rằng, dù thế nào thì anh H cũng không thể để mất anh trai của mình được. Tình yêu của anh H và chị S là một mối tình chân chính. Chị S là người biết rõ chuyện đó. Chị cùng chồng làm tất cả những gì có thể để anh B hiểu được tình yêu của họ và lòng kính trọng của họ đối với anh. Cứ thế, hai vợ chồng anh H đã theo anh B đúng mười bảy năm trời.

Cuối cùng anh B đã nhận ra lỗi của mình và tình cảm chân thành của em trai và người bạn học đã thành em dâu mình đối với anh. Anh B đã mời hàng xóm đến để chứng kiến anh xin lỗi em trai và em dâu mình. Anh cũng tuyên bố lấy lại họ của anh. Tôi và những người hàng xóm chứng kiến cảnh hai người nhận lại anh em với nhau mà không cầm được nước mắt và cũng không hiểu được vì sao hai người sống với nhau như vậy mà không ai nghĩ họ là anh em ruột của nhau. Sau này tôi được biết ý của anh H là: khi nào anh B chấp nhận nối lại quan hệ huyết thống với anh thì anh sẽ mời anh trai mình trở về mảnh đất của cha mẹ để lại để cùng sống với nhau mà thiên hạ không ai hay biết gì về việc anh H đã từ ruột thịt của mình và đổi sang họ khác. Nhưng sau khi họ nhận lại anh em, chính anh B đã quyết định công khai lỗi lầm của mình với hàng xóm. Câu chuyện ấy mang lại cho tôi một cảm giác khó tả vô cùng.

Thưa Tòa soạn,

Tôi chỉ biết kể câu chuyện như vậy. Nếu tôi là người có chút văn chương chắc tôi sẽ kể hay hơn. Câu chuyện đó quả chứa đựng một bài học cuộc đời mà tôi không dám phân tích vì năng lực hạn chế. Tôi muốn Tòa soạn nếu cho đăng trên báo thì phân tích giúp tôi.

Tôi xin chân thành cám ơn.

Phạm Đức Trung
(Thành phố Yên Bái)

tnh
06-03-2007, 01:40 AM
Kẻ phản bội nhân ái
Những ngày cuối cùng em tôi rất mệt nhưng mỗi khi thấy anh đến thăm, nó rất hạnh phúc. Anh đến và ngồi bên nó, nắm bàn tay xanh xao, gầy gầy. Anh nói những gì đó tôi không nghe rõ mà chỉ thấy gương mặt em ngập tràn hạnh phúc.

Cuối cùng tôi đã lấy được người mình yêu. Khi yêu anh ấy, tôi mới hiểu tình yêu có sức mạnh như thế nào. Nhưng trước khi trở thành vợ anh ấy, tôi đã phải trải qua những đau đớn đến tận cùng. Tuy thời gian đã trôi qua, nhưng cứ nghĩ đến thời gian đó tôi vẫn chưa khỏi hết bàng hoàng, đau khổ và cả ân hận.

Khi anh ấy ra mắt gia đình tôi thì ai cũng thấy yêu quý anh ngay lập tức. Tôi hạnh phúc đến ngạt thở vì yêu anh. Tôi tin rằng, không một người con gái nào biết anh lại không rung động trước anh. Anh là một con người mà tôi thấy không lý giải nổi về sự quyến rũ của anh ấy. Con người anh luôn luôn tỏa ra một sức mạnh rất lạ.

Hồi đó, cứ đôi ba ngày anh lại đến nhà tôi. Chúng tôi uống trà, nói về những cuốn sách, về những bản nhạc, về những điều mà chúng tôi quan tâm. Trong lúc hạnh phúc ngây ngất ấy, tôi đâu biết rằng có một người con gái yêu anh có lẽ còn mạnh liệt hơn cả tôi. Người con gái đó chính là em gái tôi. Em gái tôi là một cô gái nhu mỳ và thường lặng lẽ. Một cô gái có đôi mắt to và sâu thẳm lạ thường. Mỗi khi ngồi trước em gái mình, tôi thường ngắm nhìn đôi mắt ấy. Tôi hãnh diện vì vẻ đẹp của đôi mắt ấy. Nhưng ngay đó, lòng tôi lại dâng lên một nỗi buồn thương vô hạn khi nghĩ đến tương lai của em. Em gái tôi bị bệnh tim rất nặng. Nó phải bỏ học và ở nhà. Gia đình tôi và cả em gái tôi đều biết rằng, em gái tôi luôn luôn đứng cận kề cái chết.

Cũng không rõ từ khi nào, tôi bắt đầu nhận ra sự khác thường của người yêu mình. Anh trầm ngâm hơn và đôi lúc đang nói chuyện với tôi mà đầu óc vẫn để đâu đó. Rồi mỗi khi anh đến nhà tôi, em gái tôi không giấu được tình cảm của mình nữa. Tôi đã nhận ra ánh mắt của em gái tôi dành cho anh.

Một lần, tôi nhìn thấy anh dúi vào tay em gái tôi một lá thư. Tôi hỏi anh ấy đã đưa gì cho em gái mình, anh vô cùng lúng túng và đã nói dối. Anh ấy không bao giờ có thái độ đó với tôi. Anh luôn luôn là người chân thành và rành mạch.

Khi đang yêu, người ta có thể có những hành động vô cùng ích kỷ và thiếu suy nghĩ. Chính vì vậy mà tôi không muốn anh đến nhà tôi nhiều nữa. Những lúc chỉ có hai chị em ở nhà, tôi thường nói bóng nói gió về mối quan hệ có nhiều điều không bình thường giữa anh và nó. Tôi thấy em tôi cũng lúng túng và lảng sang chuyện khác.

Tôi còn phát hiện ra có lúc tôi không có nhà, anh vẫn đến nhà tôi và ở lại chơi với em gái tôi. Một lần, tôi từ cơ quan về và bắt gặp em gái tôi đang úp mặt vào cánh tay anh ấy và khóc. Tôi vùng bỏ chạy. Anh tìm tôi. Mặt anh đau khổ. Tôi khóc lóc và nguyền rủa anh. Nhưng anh chỉ thở dài và nói: Hãy tha thứ cho anh, rồi em sẽ hiểu.

Làm sao tôi có thể tha thứ cho anh, khi mà anh đã làm tổn thương tôi, đã làm trái tim tôi rỉ máu. Tôi cũng không thể nào hiểu được tại sao anh lại yêu tôi, lại yêu cả em gái tôi. Tôi đau đớn, trái tim như bị bóp nghẹt. Tôi hận anh, tôi nói với anh rằng, anh là kẻ đểu cáng, anh đã lừa dối hai chị em tôi.

Khi ấy, đầu óc tôi mu muội và ích kỷ vô cùng, tôi cũng nói thẳng với em tôi về quan hệ của chúng tôi và khẳng định anh ấy là một gã Sở Khanh. Em gái tôi không nói gì mà chỉ khóc. Em khóc rất nhiều, mắt lúc nào cũng sưng. Nhiều lúc, tôi rất ân hận, tôi tự nguyền rủa mình vì đã gặp và yêu anh, để rồi xảy ra những điều khó xử như vậy. Tôi rất thương em gái, nhưng tôi cũng rất yêu anh. Anh là niềm kiêu hãnh của tôi đối với bạn bè, với người thân và với những người xung quanh, anh quan trọng đối với cuộc sống của tôi biết bao.

Rồi trong một lần, bởi quá yêu anh, bởi sợ hãi vì sẽ mất anh mà tôi đã nói với anh: "Sao anh lại yêu nó, anh có biết nó bị bệnh tim và không thể sống lâu được nữa". Anh ấy đã tát tôi rồi bỏ đi. Tôi bàng hoàng. Tôi chưa bị ai tát như thế. Cho đến mãi sau này, tôi không thể tin anh đã hành động như thế với tôi.

Gần một năm sau thì em tôi mất. Gia đình tôi đau đớn vô cùng mặc dù ai cũng biết điều gì sẽ xảy ra với em. Những ngày cuối cùng em tôi rất mệt nhưng mỗi khi thấy anh đến thăm, nó rất hạnh phúc. Anh đến và ngồi bên nó, nắm bàn tay xanh xao, gầy gầy. Anh nói những gì đó tôi không nghe rõ mà chỉ thấy gương mặt em ngập tràn hạnh phúc.

Cũng những ngày đó, em nói với tôi: "Em biết em không sống được lâu nữa đâu chị ạ. Nhưng em hạnh phúc". Tôi hiểu em tôi nói về điều gì. Và thế là, thói ích kỷ và ghen tuông trong tình yêu lại trỗi dậy. Tôi căm thù anh ấy và giận cả em tôi.

Một thời gian khá dài sau khi em gái tôi mất, anh hẹn nói chuyện với tôi. Lúc đấy con người tôi mẫu thuẫn vô cùng, tâm can bị giằng xé, dằn vặt. Thực lòng, tôi vừa muốn gặp anh ấy vừa muốn bỏ chạy. Nhưng cuối cùng tôi vẫn đến gặp anh.

Khi chúng tôi gặp nhau, cả hai không nói một lời nào. Trong sâu thẳm trái tim, tôi vẫn rất hận anh, nhưng vẫn còn yêu anh. Sau cùng anh cũng nói: "Anh không hề yêu Minh. Anh thương Minh quá. Anh biết Minh không thể kéo dài cuộc sống lâu hơn được". Tôi gào lên: "Anh không yêu nó sao anh lại làm như thế?". Anh nói: "Trong chuyện này, anh đã hy sinh vì một người khác". Tôi bĩu môi: "Anh nhân đạo quá nhỉ. Với lòng nhân đạo của anh, tôi xin anh từ nay đừng đến nhà tôi nữa". Nói xong, tôi bỏ đi.

Trở về nhà, tôi gặp mẹ ngay phòng khách. Ánh mắt của mẹ lúc đấy như nhìn thấu được tâm can, khiến tôi không kiềm chế được bản thân đã ôm chầm lấy mẹ tức tưởi khóc và kể cho mẹ nghe về chuyện của ba chúng tôi.

Nghe xong, mẹ tôi rất ngạc nhiên. Mẹ thắc mắc rằng sao anh ấy không nói gì với tôi. Đến lúc đó, mẹ tôi mới nói cho tôi biết sự thật về quan hệ giữa em gái tôi và anh ấy.

Em gái tôi đã thực sự yêu anh. Đấy là mối tình duy nhất của em gái tôi khi nó còn sống. Nhưng nó biết tôi và anh yêu nhau. Chính vì nỗi thất vọng và tình yêu quá mãnh liệt đó mà bệnh tình của nó thêm nặng. Em gái tôi đã tâm sự với mẹ tôi về tình yêu đơn phương của nó. Mẹ tôi vô cùng lo lắng. Bởi mẹ biết chuyện gì sẽ xảy ra, nếu như... Nhiều đêm, em tôi không ngủ, ngồi suốt đêm im lặng. Và mẹ là người mà chỉ có em gái tôi có thể khóc và tâm sự... Đôi lần, mẹ tôi phát hiện ra sự hoảng loạn của em gái tôi. Một điều kinh khủng mẹ tôi phát hiện, đó là em gái tôi có dấu hiệu định quyên sinh. Mẹ tôi muốn em gái tôi được sống hạnh phúc trong những năm tháng cuối đời. Trong nỗi sợ hãi và buồn đau, mẹ tôi đã tìm gặp anh ấy.

Mẹ tôi đã nói hết những gì về em gái tôi. Anh cũng nói là anh nhận được những lá thư của em gái tôi. Cuối cùng mẹ tôi cầu xin anh hãy làm điều gì đó giúp em gái tôi. Mẹ tôi còn khóc và nói rằng chuyện này sẽ làm anh khó xử nhưng mong anh hãy vì một người bệnh nặng mà hãy tìm cách để cả hai chị em tôi đều ít bị tổn thương. Mẹ tin anh làm được điều đó. Chính thế mà mẹ tôi phải đến tìm anh.

Từ lúc đến cho đến khi mẹ tôi về, anh không nói một điều gì. Suốt một tháng sau đó, anh không đến nhà tôi. Rồi sau đó, anh trở lại nhà tôi và câu chuyện đã xảy ra.

Anh đã làm hài lòng mẹ tôi và "hạnh phúc" cho em tôi. Nhưng có lẽ khát vọng của một con người sắp từ giã cõi đời mới là lý do để anh ấy quyết định hành động của mình. Mặc dù anh biết có thể sẽ bị mất tôi và anh chỉ mang lại một tình yêu giả dối cho em gái tôi mà thôi.

Khi tôi đã hiểu được mọi chuyện, tôi đã xin anh tha thứ. Anh nói với tôi: "Anh không xin em tha thứ điều ấy. Anh muốn em tha thứ cho anh một điều mà cả em và mẹ em không biết. Khi Minh mất rồi, anh mới nhận thấy anh yêu Minh".

Anh khiến tôi rất ngạc nhiên nhưng chính vì thế tôi càng yêu anh, kính trọng anh hơn và tìm mọi cách để không mất anh. Hình như tình yêu của chúng tôi mạnh mẽ hơn và kỳ lạ hơn khi có một người thứ ba trong tình cảm của hai chúng tôi. Khi tôi sinh con gái đầu lòng, chúng tôi quyết định đặt tên cháu là Minh. Cả hai chúng tôi muốn em gái chúng tôi có mặt trong đời sống hạnh phúc của gia đình chúng tôi ở một phía nào đó

tnh
06-03-2007, 01:41 AM
Chúng tôi đã "giết chết" một người bạn
Vất vả lắm chúng tôi mới biết thông tin về S: Sau khi bị nhà trường gửi công văn đến địa phương thông báo về đạo đức của mình, S đã phải chịu quá nhiều tai tiếng và những ánh mắt khinh bỉ của hàng xóm. S đã xin đi khai hoang ở một huyện miền núi.

Kính gửi các anh, các chị Báo ANTG Cuối tháng!

Năm nay tôi đã gần bảy mươi tuổi. Cái tuổi mà con cháu đã có thể chúc thọ được rồi. Tôi đã chứng kiến biết bao câu chuyện cuộc đời. Nhưng có một câu chuyện mà tôi không thể nào quên được. Tôi viết lá thư này gửi các anh, các chị trong Tòa báo để kể lại câu chuyện mà tôi là một người liên quan đến câu chuyện đó. Hy vọng, câu chuyện của tôi nếu được in lên sẽ nói với bạn đọc gần xa một điều gì đó về cuộc đời này.

Câu chuyện xảy ra vào năm cuối cùng trong đời sinh viên của tôi, ở ký túc xá mà tôi ở lúc đó. Một hôm, chúng tôi đi tập quân sự. Duy chỉ có một người trong phòng kêu ốm và ở lại. Người đó là S, quê ở Thanh Hóa. Buổi chiều trở về, tôi sắp xếp lại đồ đạc cá nhân và hoảng hốt nhận ra một chỉ vàng của tôi không cánh mà bay. Đó là chỉ vàng mà cha mẹ cho để mua xe đạp đi làm sau khi tôi ra trường. Ngay lúc đó, tôi nhìn S đang nằm quay mặt vào tường và hoàn toàn tin rằng S đã lấy cắp chỉ vàng của tôi. Tôi đề nghị mọi người trong phòng cho tôi khám tư trang của họ. Cuộc khám xét không thành công.

Nhưng qua phân tích của chúng tôi và qua thái độ hoang mang của S, chúng tôi đều tin S đã giả ốm ở nhà để lấy cắp chỉ vàng của tôi. Chúng tôi đã báo cáo sự việc với nhà trường. Bảo vệ nhà trường cho biết, buổi sáng chúng tôi đi tập quân sự thì S có ra khỏi trường khoảng một giờ đồng hồ. Mặc dù S cả quyết không hề lấy cắp chỉ vàng ấy, nhưng chúng tôi và nhà trường đã tiến hành nhiều cuộc họp để chất vấn và khẳng định thủ phạm vụ trộm đó là S.

Một tuần sau, chúng tôi phát hiện S mang một tải mì sợi ra ga tàu mang về quê. Chúng tôi túm lại hỏi S lấy tiền đâu mà mua mì sợi. S không nói gì mà ôm mặt khóc. Năm đó, nhà trường đã không xét tốt nghiệp cho S mặc dù học lực của S rất khá, với lý do đã có hành vi đạo đức xấu và không trung thực với tội lỗi của mình. Chúng tôi hồ hởi nhận bằng tốt nghiệp và quyết định phân công công tác. Chỉ có S không được nhận bằng tốt nghiệp và tạm thời không được phân công công tác. Đồng thời nhà trường có công văn gửi về địa phương S sinh sống đề nghị địa phương theo dõi và giáo dục S. Khi nào địa phương chứng nhận S đã hối cải và tiến bộ thì nhà trường sẽ xem xét giải quyết trường hợp của S.

Thời gian cứ thế trôi đi. Một số bạn bè học cùng chúng tôi vẫn có liên lạc với nhau. Duy chỉ có S là không ai biết rõ ràng ở đâu và làm gì. Nhà trường cho biết, S cũng không quay lại trường để xin cấp bằng và phân công công tác.

Ngày tháng trôi qua, tôi chẳng còn nhớ tới chỉ vàng bị lấy cắp năm xưa. Trong đám bạn bè tôi, có những người rất thành đạt. Đặc biệt H đã trở thành một người rất giàu có bằng năng lực và sức lao động của chính anh. Anh là một người được xã hội biết đến.

Một hôm, sau ngày tôi vừa nghỉ hưu, có một thanh niên mang đến nhà tôi một lá thư và một cái hộp giấy nhỏ. Anh thanh niên nói là một người nhờ chuyển, nhưng lại nói là không nhớ tên người đó. Tôi băn khoăn và hồi hộp mở thư ra. Lá thư chỉ vẻn vẹn mấy dòng: "Anh P thân mến, tôi xin được gửi trả lại anh chỉ vàng mà tôi đã lấy của anh cách đây mấy chục năm. Tôi sẽ đến gặp anh để xin anh thứ tội. Kính". Đọc thư xong, tôi thực sự bàng hoàng. Lá thư không ký tên. Tôi không còn nhận được chữ đó là của ai viết nữa. Tôi đoán đó là thư của S. Tôi mở chiếc hộp giấy nhỏ và nhận ra trong đó có một chỉ vàng. Đó là một chỉ vàng mới. Không hiểu tại sao lúc đó nước mắt tôi chảy ra giàn giụa. Lúc này tôi mới thực sự nghĩ đến S với một nỗi xót thương. Ngày ấy, S là sinh viên nghèo nhất trong lớp. Bố S mất sớm. Mẹ S phải tần tảo nuôi năm anh chị em S ăn học. Có lẽ vì thế mà trong một phút không làm chủ được mình, S đã trở thành một kẻ ăn cắp. Nếu lúc đó, chúng tôi có được sự xót thương như bây giờ thì có lẽ chúng tôi không đẩy S vào tình cảnh như ngày ấy.

Sau khi nhận được lá thư và chỉ vàng, tôi hầu như mất ăn, mất ngủ. Có một nỗi ân hận cứ xâm chiếm lòng tôi. Ngày ngày tôi đợi S đến tìm. Tôi sẽ nói với S là tôi tha thứ tất cả và tôi cũng xin lỗi S vì lòng tôi thiếu sự thông cảm và thiếu vị tha.

Một buổi sáng có tiếng chuông cửa. Tôi vội chạy ra mở cửa. Người xuất hiện trước tôi không phải là S mà là H. Tôi reo lên: "Ối, hôm nay sao rồng lại đến nhà tôm thế này". Khác với những lần gặp gỡ trước kia, hôm đó gương mặt H trầm tư khác thường. Tôi kéo H vào nhà và nói ngay: "Mình vừa nhận được thư thằng S. Cậu có biết nó viết gì không? Nó hứa trả lại tôi chỉ vàng và nói sẽ đến gặp tôi để xin lỗi". Khi tôi nói xong, H bước đến bên tôi và nói: "Anh P, anh không nhận ra chữ viết của tôi ư. Tôi chính là người viết lá thư đó. Tôi chính là người đã ăn cắp chỉ vàng của anh". Nói xong, H như đổ vào tôi và khóc rống lên. Tôi vô cùng bàng hoàng và không tin đó là sự thật. Khóc xong, H đã kể cho tôi nghe tất cả sự thật. Vì cũng muốn mua một chiếc xe đạp sau khi tốt nghiệp đi làm, H đã tìm cách lấy trộm chỉ vàng. Và suốt thời gian qua, H rất ăn năn và luôn tìm kiếm S để chuộc lỗi. Thế rồi chúng tôi quyết định về quê S mặc dù biết S không còn sinh sống ở quê đã lâu.

Vất vả lắm chúng tôi mới biết thông tin về S: Sau khi bị nhà trường gửi công văn đến địa phương thông báo về đạo đức của mình, S đã phải chịu quá nhiều tai tiếng và những ánh mắt khinh bỉ của hàng xóm. S đã xin đi khai hoang ở một huyện miền núi.

Nghe vậy, chúng tôi lại tức tốc lên đường tìm đến nơi S đang sinh sống. Ở đó S sống cùng vợ con trong một ngôi nhà gỗ đẹp dưới chân một dãy đồi. S trồng trọt và mở một trang trại chăn bò lớn. Trông anh già hơn tuổi nhưng khỏe mạnh và đôi mắt nhân ái vô cùng. Cả ba chúng tôi ôm lấy nhau mà khóc.

Tôi và H quyết định ngủ lại một đêm với S. H xin S cho H được kể sự thật cho vợ con S nghe để họ thanh thản và hãnh diện về chồng, về cha mình và H muốn được tạ lỗi với vợ con S. Nhưng S gạt đi và nói: "Chưa bao giờ họ tin tôi là kẻ ăn cắp". Trước khi chia tay nhau, H cầm tay S khóc và nói: "Mình có tội với cậu. Cậu đã tha tội cho mình. Nhưng mình muốn được trả một phần nhỏ cái nợ lớn mà đời mình đã mang nợ với cậu. Hãy nói mình phải trả nợ cậu như thế nào". S mỉm cười và nói: "Ông đã trả hết nợ rồi". Khi tôi và H còn chưa hiểu ý thì S nói: "Việc ông nói ra sự thật về tội lỗi của ông là ông đã trả hết nợ rồi. Đừng nghĩ gì về chuyện cũ nữa. Mà thực ra, ông nợ chính ông nhiều hơn là ông nợ tôi. Nợ người dễ trả hơn nợ chính mình". Cho đến lúc đó, tôi mới thực sự hiểu con người S. Tôi hiểu ra một điều gì đó thật xúc động, thật sâu sắc về cuộc đời này. Hóa ra, có những tâm hồn lớn lao và cao thượng lại nằm trong những con người khốn khó và giản dị như thế.

Cũng trong cái đêm thức với S tại ngôi nhà gỗ của anh, chúng tôi mới biết những ngày đi học, khi nghỉ học, S vẫn đi quay mì sợi thuê để mua mì sợi cứu đói cho gia đình. Chúng tôi đã không hiểu được bạn bè mình. Chúng tôi đã làm cho một con người như S nếu không có nghị lực, không có lòng tin có thể dễ dàng rơi vào tuyệt vọng.

Thưa các anh, các chị, câu chuyện tôi kể cho các anh, các chị chỉ có vậy. Nhưng với tôi đó là một bài học về con người và về cuộc đời. Kính chúc các anh, các chị trong Tòa báo mạnh khỏe, an khang và thịnh vượng

tnh
10-03-2007, 02:18 AM
Cuộc đời của mẹ
Mẹ phải xa tổ ấm vì muốn giữ trọn chữ "nghĩa" mà thời bấy giờ rất thiêng liêng, đó là cố gắng bù đắp những mất mát hy sinh cho những người con Cụ Hồ, trong đó có người chồng tưởng đã hy sinh của mẹ.

Kính gửi Ban Biên tập ANTG Cuối tháng!



"Chuyện khó tin nhưng có thật" lần này của tôi xin được dành riêng trang viết cho mẹ nuôi tôi, một người phụ nữ cao cả đầy bất hạnh. Mẹ không sinh được con nhưng toàn bộ gia sản của mẹ lại đầu tư để chăm chút, nuôi dưỡng những đứa con nuôi và xem như là khúc ruột do mình sinh ra. Là một người vợ hết lòng chiều chồng, hiếu thảo với mẹ chồng, 30 năm chăm sóc con, mẹ chồng và chồng bị trọng bệnh liệt giường mà không một lời ta thán và xem đó như là niềm hạnh phúc của riêng mình.

Thực ra tôi không nhớ về mẹ được nhiều vì thời gian tôi sống với mẹ quá ít, vì ba mẹ phải chia tay nhau. Tôi lớn lên trong sự bao bọc của ba nuôi cùng với những hồi ức của ba về mẹ. Trong mắt trẻ thơ của tôi, mẹ như một bà tiên phúc hậu, có một không hai trên cõi đời. Ngày ngày tôi chỉ mong ước mẹ trở về với tổ ấm của chúng tôi, để tôi được chăm sóc và để ba tôi không phải thổn thức hồi tưởng mỗi khi nghĩ về mẹ.

Vậy mẹ là ai? Tại sao lại để cho một người đàn ông và một trẻ thơ ngày đêm ngóng trông như vậy? Tôi thấy xót xa, một người như mẹ sao lại không được hưởng hạnh phúc đời thường như những người phụ nữ khác? Hay là ông trời tạo nên như vậy, để ba tôi, tôi và những người khác nhớ về mẹ nhiều hơn, để phân biệt mẹ không thể lẫn với ai ở trên đời này!

Ngày đó, có anh bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc, bị hút hồn bởi em gái địa phương. Hai người nên vợ nên chồng và chỉ sau ngày cưới khoảng mấy ngày, người chồng phải chia tay vợ lên đường. Từ đó, người vợ bặt tin chồng, không lâu sau nhận tin chồng mình đã hy sinh trong chiến trường B. Sau đó, ba mẹ tôi đến với nhau nhưng cuộc hôn nhân thứ hai cũng không giúp mẹ nuôi tôi có được hạnh phúc làm mẹ. Tôi được về sống với ba mẹ trong hoàn cảnh như vậy.

Nghĩ về ba mẹ, tôi không nhớ được những giây phút sum vầy của gia đình khi có mẹ, có ba vì tôi lúc đó còn quá nhỏ. Ký ức về mẹ của tôi là do ba kể lại, hoặc qua một số người thân, quen. Ba nuôi tôi gặp mẹ khi tuổi đã tứ tuần. Mẹ đã làm trọn phận con dâu với mẹ chồng, người vợ ngoan của chồng, đến nỗi, lúc trăn trối, mẹ chồng đã gọi tên mẹ mặc dù lúc đó mẹ không còn là con dâu của bà nữa. Bởi mẹ có bàn tay rất dịu dàng và ân cần khi chăm sóc mẹ chồng mù lòa của mình.

Gia đình ba tôi không giàu có nhưng có cuộc sống tương đối phong lưu hơn những gia đình khác thời bấy giờ, bên cạnh đó mẹ lại có công việc thuận lợi nên cuộc sống vật chất của mẹ có lẽ nhiều người cũng ao ước. Bù lại, ông trời lại không ban cho mẹ thiên chức của người phụ nữ. Vì vậy, khi đón tôi về, bao tình cảm của ba mẹ đều dồn nén lên cho tôi và gia đình. Nhìn lại tấm hình mẹ âu yếm bế tôi lúc 3 tuổi, tôi càng thấm thía hơn về tình cảm mà ba mẹ đã dành cho tôi.

Chỉ một vài năm sau khi đón tôi về, chồng cũ (do báo tử nhầm) đã trở về và cũng là người chồng sau này của mẹ đã ra Bắc để tìm lại vợ sau ngày giải phóng. Mọi chuyện sẽ không có gì để nói nếu ba mẹ nuôi tôi không phải là những người phúc hậu, có nghĩa có tình. Một ngày nên vợ nên chồng cũng phải có nghĩa phu thê, giờ ba mẹ nuôi tôi phải tính sao đây? Người phụ nữ phải nghĩ sao đây cho phải với lẽ trời khi có hai người chồng hợp pháp thương yêu mình cháy bỏng? Và ba nuôi tôi đã nhường lại vợ mình cho người đã có công với đất nước, để rồi họ chia tay trong tình yêu vô bờ dành cho nhau.

Thế nhưng, mẹ phải xa tổ ấm đó vì muốn giữ trọn chữ "nghĩa" mà thời bấy giờ rất thiêng liêng, đó là cố gắng bù đắp những mất mát hy sinh cho những người con Cụ Hồ, trong đó có người chồng tưởng đã hy sinh của mẹ. Cả ba mẹ ai cũng muốn có tôi tha thiết. Tôi là niềm tự hào, là niềm vui của ba nên cuối cùng mẹ không nỡ dứt tôi đi. Giữa hai người có sự thỏa thuận chính tôi cũng nghe thấy là "ba sẽ ở vậy nuôi con, không có thêm người vợ khác. Nếu ba đi bước nữa, mẹ sẽ đón con đi". Tôi cũng không hiểu tại sao mình không phải là con đẻ của ba mẹ nhưng lại được hưởng một ân huệ lớn đến thế.

Khi về với người chồng cũ, mẹ lại khắc khoải vì thiếu vắng tiếng cười con trẻ nên mẹ đã xin một bé trai về nuôi. Thật đau đớn, chỉ sau mấy tháng tuổi, em bị sốt bại liệt, bị di chứng và ảnh hưởng não. Chồng của mẹ là một cán bộ của thành phố nên cuộc sống không mấy thiếu thốn nhưng cả hai vợ chồng đã bán toàn bộ những gì mình có để chạy chữa thuốc men cho con. Toàn bộ thời gian và của cải mẹ đầu tư chăm sóc cho đứa con tật nguyền trong suốt mười mấy năm trời. Một đứa con không do mình đẻ ra nhưng mẹ đã có sức mạnh và can đảm của người mẹ để cứu vớt che chở cho con với căn bệnh hiểm nghèo, đòi hỏi sự chăm sóc rất tỷ mỷ và chu đáo từng giờ, từng ngày kéo dài hơn thập kỷ.

Gia đình mẹ đã nghèo đi nhanh chóng vì những biến cố từ việc chăm sóc, chữa chạy bệnh tật cho con. Cố gắng lắm nhưng rồi đứa con cũng rời mẹ ra đi. Rồi sau đó đến lượt mẹ chồng phải nằm liệt giường trong nhiều năm, mẹ lại ngược xuôi phụng dưỡng chăm sóc. Khi mẹ chồng ra đi chưa xanh cỏ, người chồng đi B của mẹ bị nhiễm chất độc da cam đến lúc phát bệnh. Bao nhiêu năm người chồng bị đau đớn thì cũng bấy nhiêu năm người vợ cũng đớn đau. Có thể nói, chồng mẹ nằm bệnh viện nhiều hơn ở nhà. Một mình mẹ đã phải cáng đáng trước một gia đình đầy bi kịch. Chính bản thân mẹ cũng là một bi kịch rồi.

Tôi tìm về gặp lại mẹ sau mấy chục năm xa cách, khi tôi đã có gia đình riêng của mình. Thật ngỡ ngàng, ra đón tôi chính là mẹ nhưng không phải là hình ảnh như tôi vẫn nhớ về và tưởng tượng. Trước mắt tôi là một người phụ nữ đã bị thời gian và nỗi đau lấy đi những nét đẹp đôn hậu. Mẹ không giống ngày xưa bởi đã quên đi cuộc sống của chính mình. Mẹ sống cho cuộc đời của những người khác. Hiện nay, mẹ đang sống trong một ngôi nhà, đúng nghĩa hơn là nó hơi giống một túp lều có kích thước rộng mà thời nay, chỉ dành cho những gia đình chính sách quá nghèo, trong nhà không có gì đáng giá ngoài những bàn thờ lớn đơn sơ chiếm gần hết gian nhà. Chồng mẹ vừa mất, bao nhiêu nỗi đau giờ cũng trở nên chơ vơ trống trếnh khi những người thân bên cạnh đã bỏ mẹ mà đi. Cuộc sống hơn 30 năm của mẹ là chăm sóc cho người khác... giờ đây mẹ không còn ai để chăm nữa... Mẹ buồn! Mẹ không ngủ! Mẹ khóc! Mẹ đi lang thang ra biển để chân tay không bị trống vắng, để quên đi cảm giác không có người thân bên mình.

Thấy tôi, mẹ lại một lần nữa không tin vào sự thật, rằng sau mấy chục năm lưu lạc, mẹ còn gặp được tôi. Mẹ chỉ biết khóc và khóc. Ông trời đã lấy đi của mẹ tất cả nhưng may mắn ông trời còn để lại cho mẹ sức khỏe để lo cho những người thân của mình. Gặp lại tôi, mẹ không nói được nhiều, chỉ có nước mắt và nước mắt. Tôi cũng đã có con lớn nhưng bao nhiêu tình cảm nay mẹ lại cố dành cho tôi. Mẹ lại xem tôi như một đứa trẻ. Mẹ bóc tôm cho tôi, cứ bóc hoài bóc mãi và giục con ăn. Gặp lại con nuôi, mẹ có dịp nhớ lại ký ức của mình mấy chục năm về trước. Mẹ như bừng tỉnh sau nỗi đau tưởng như làm mẹ gục ngã, mẹ quả quyết: "Mẹ sẽ cố gắng xây một mái nhà chu tất để nếu có dịp chồng con về thăm sẽ không coi khinh, mẹ sẽ cố gắng lo cho bản thân... Được gặp lại con là mẹ toại nguyện rồi, con đừng lo cho mẹ vì mẹ không thiếu thốn. Mẹ có chế độ, có tiêu chuẩn trợ cấp... Mẹ chỉ có một ước mơ nhỏ là nếu mẹ mất, hãy về thắp nhang cho mẹ". Biết tôi hay ốm đau lặt vặt, mẹ nói: "Mẹ không được khỏe chứ khi mẹ khỏe rồi, mẹ sẽ chăm sóc cho con". Trời ơi, tôi chưa nói được câu này với mẹ, vậy mà mẹ đã nói trước. Bao giờ cũng vậy, mẹ cũng chỉ biết nghĩ cho người khác, dù lúc này mẹ rất cần được chăm sóc về tinh thần.

Thực ra, ba nuôi của tôi không bao giờ nguôi ngoai hình ảnh mẹ. Tôi sống với ba và đầy ắp những kỷ niệm mà ba luôn nói về mẹ. Chính vì vậy, hình ảnh mẹ trong tôi đẹp vô cùng. Mẹ đã từng sống với 2 người đàn ông, một người mẹ yêu và một người mẹ thương nhưng mẹ đã sống hết mình với họ trong thời gian cùng chung sống. Mẹ là chỗ dựa tinh thần cho họ, đem lại cho họ hạnh phúc mà không bao giờ họ có được từ nơi khác. Họ đã nhận tình yêu của mẹ, sự săn sóc của mẹ và không bao giờ quên được tình cảm của mẹ cho đến khi cả hai đều bỏ mẹ về với thế giới bên kia.

Xin cảm ơn mẹ đã cho con tổ ấm dù rất ngắn ngủi. Xin thay mặt ba cảm ơn mẹ đã đem đến cho ba nuôi của con những chuỗi ngày hạnh phúc đáng nhớ cho dù không dài. Ba đã thương con, chăm sóc con, nâng niu con, vì vậy, con thầm cảm ơn mẹ đem đến niềm vui cho ba vì cuộc đời của ba cũng rất bất hạnh. Con luôn nghĩ về mẹ với những tình cảm lớn lao nhất. Cầu mong mẹ luôn khỏe và lấy lại được nụ cười cùng niềm vui trong cuộc sống.

tnh
10-03-2007, 02:31 AM
Lời hứa của một người tù
Sau khi ra tù, vợ chồng anh K. cũng gặp quá nhiều khó khăn. Nhiều lúc anh K. tưởng cả đời không bao giờ trả nợ được. Nhưng nghĩ đến số tiền của tôi cho vay và số tiền các cán bộ trại cải tạo quyên góp đã cứu con anh thoát chết mà anh đã vùng đứng lên. Anh phải phấn đấu để trả nợ và còn để thực hiện một lời hứa. Điều ấy đối với anh K. quan trọng hơn cả tiền bạc.

Kính gửi Báo ANTG Cuối tháng!

Tôi là người rất say mê đọc những câu chuyện khó tin nhưng có thật trên Báo ANTG Cuối tháng. Tuy nhiên, tôi cũng phải nói thật là có câu chuyện đọc xong tôi cứ tự hỏi chuyện đó có thật không. Nhưng rồi ngẫm lại thấy trên đời này mọi chuyện đều có thể xảy ra. Ví như cuộc đời tôi, ai mà nghĩ rằng có ngày tôi lại vào tù vì vi phạm luật pháp. Rồi trong khi tôi đang ở tù thì người bạn thân của tôi đã chiếm lấy vợ tôi và hai con người này đã tìm cách chiếm toàn bộ nhà cửa của tôi một cách rất tinh vi. Nhưng đấy là chuyện riêng tư của tôi. Câu chuyện mà tôi viết thư kể lại cho các anh, các chị Báo ANTG Cuối tháng nghe dưới đây không phải chuyện tôi vừa nói trên mà là chuyện về một người bạn tù của tôi.

Gần hai mươi năm trước, tôi bị bắt vì việc làm sai nguyên tắc, gây thiệt hại về người và của cho xí nghiệp tôi làm lãnh đạo. Trong thời gian ở tù, tôi có thân với anh K., người Ninh Bình. Anh K. đi tù khi có một mẹ già, một người vợ bệnh tật và hai đứa con nhỏ. Chính vì hoàn cảnh như thế mà từ ngày anh K. vào tù, gia đình anh càng rơi vào tình trạng kinh tế vô cùng khó khăn. Tôi biết được hoàn cảnh anh K. vì hai chúng tôi thường tâm sự chuyện cuộc đời cho nhau nghe.

Vào năm thứ hai ở tù, vợ anh K. đến thăm và báo cho anh K. biết đứa con trai đầu của họ mắc bệnh hiểm nghèo cần phải phẫu thuật và chữa trị, nếu không đứa bé khó có thể sống được. Nhưng vào hoàn cảnh lúc đó, nhà anh đủ ngày hai bữa ăn đã là may mắn lắm rồi nói chi đến chuyện có tiền để chữa bệnh cho con.

Suốt mấy ngày sau, anh K. như người phát điên. Có lúc anh tự đập đầu vào tường vì không có cách nào kiếm ra tiền để chữa bệnh cho con. Không cầm lòng trước nỗi đau buồn của người bạn tù, tôi đã báo cáo với cán bộ trại cải tạo.

Cán bộ trại họp bàn và quyên góp được một số tiền cho anh K. Nhưng với số tiền quá ít ỏi của các cán bộ trong trại lúc đó cũng chẳng thấm vào đâu, họ không có thu nhập gì ngoài đồng lương Nhà nước. Vì vậy, tấm lòng thì rộng nhưng túi tiền lại hẹp.

Vào một buổi tối khi chúng tôi đã đi ngủ thì anh K. tìm cách tự tử. Được một người cùng phòng giam phát hiện và kịp thời cứu sống anh. Khi được hỏi vì sao anh lại tự tử khi mẹ già và vợ con vẫn đang sống và chờ anh trở về, anh nói anh sống cũng bằng thừa vì không kiếm nổi tiền để cứu con. Vì tình bạn tù với nhau và vì bệnh tình của cháu nhỏ, tôi đã liên lạc với em trai mình để xin lại số tiền mà tôi cho chú ấy vay khi còn đang công tác. Tôi có ý định sau này khi ra tù thì lấy số tiền đó làm vốn làm ăn và nuôi con.

Em trai tôi đã mang số tiền đó vào trại cho tôi. Lãnh đạo trại khi biết tôi có ý định cho anh K. vay tiền đã khen ngợi hành động đó của tôi nhưng cũng băn khoăn không biết sau này anh K. có khả năng trả nợ không. Thâm tâm tôi lúc đó chỉ nghĩ nên giúp anh K. trong lúc khó khăn này, đứa trẻ cần được cứu sống.

Chính anh K. lúc đầu cũng không dám nhận sự giúp đỡ của tôi. Anh nói với tôi là không biết cuộc đời anh có thể trả lại cho tôi số tiền đó được không. Tôi nói với anh K. là sinh mệnh của con anh cũng như sinh mệnh của con tôi, nếu anh không trả được thì đứa bé ấy sau này sẽ trả tôi. Đến lúc đó anh K. mới nhận số tiền đó.

Suốt đêm ấy anh ngồi trước gói tiền của tôi không ngủ và đôi khi lại nức nở khóc. Sáng hôm sau, lãnh đạo trại đã cử một cán bộ mang số tiền của tôi và số tiền quyên góp từ các cán bộ trại về tận nhà cho vợ anh K. Và cháu bé được cứu sống.

Vợ anh K. đã đưa cháu bé vào trại thăm anh và cám ơn những người đã giúp đỡ cứu sống con trai họ. Tôi chẳng bao giờ quên được hình ảnh anh K. dắt con đến trước tôi và nói: "Con lạy bác Q. đi, bác ấy là người đã sinh ra con lần thứ hai đấy". Đứa bé nghe lời cha nó chắp tay và cúi đầu lạy tôi.

Hai năm sau đó, tôi được ra trại. Anh K. còn ở thêm hai năm nữa. Trước khi chia tay, anh K. ôm tôi khóc và nói: "Vợ chồng em đội ơn bác. Hết hạn tù em sẽ tìm bác để thắp nén hương tạ ơn tổ tiên bác và trả nợ bác số tiền bác đã cứu con trai em". Tôi nói với anh K. đừng lo nghĩ gì về chuyện số tiền tôi đưa cho anh mà gắng cải tạo tốt để sớm sum họp với gia đình.

Trở về với gia đình, tôi lo ổn định lại cuộc sống và nuôi dạy đứa con của tôi. Tôi không ở thành phố mà đưa con lên một huyện miền núi làm trang trại chăn nuôi. Thi thoảng tôi cũng nhớ lại anh K. với những kỷ niệm buồn vui ở trại cải tạo.

Rồi năm năm trôi đi, mười năm trôi đi, cuộc sống của tôi đã ổn định và phát triển. Gần bốn năm ở trại cải tạo đã cho tôi một nghị lực sống mãnh liệt hơn. Thi thoảng em trai tôi có lên thăm và nhắc lại chuyện tôi cho anh K. vay tiền. Nhưng tôi nói với em trai tôi rằng sự thành tâm giúp anh K. ấy, ông trời đã trả lại cho tôi một cuộc sống có ý nghĩa sau này cả về vật chất và tinh thần. Tôi đã trở thành chủ một trang trại khang trang và đang đà phát triển.

Thế rồi đến một ngày anh K. xuất hiện sau mười lăm năm chúng tôi chia tay nhau ở trại cải tạo. Anh xuất hiện cùng một chàng trai lịch sự, đó là đứa con trai bị bệnh hiểm nghèo ngày nào của anh. Sự xuất hiện của hai cha con anh K. làm tôi sững sờ vì hạnh phúc. Lúc đó tôi là người bật khóc trước. Đấy là món quà quá lớn của cuộc đời ban cho tôi mà chỉ đi qua đau khổ, mất mát và lầm lạc tôi mới hiểu được ý nghĩa của món quà ấy.

Hai cha con anh K. bước đến trước ban thờ của gia đình tôi. Anh bày trái cây vào một chiếc khay, còn một gói giấy vuông vức vào một cái khay khác rồi đặt lên bàn thờ và thắp hương. Hai cha con anh K. cúi lạy ban thờ tổ tiên tôi. Rồi anh quay lại ôm lấy tôi và khóc rống lên: "Anh Q. ơi, tha tội cho em, bây giờ cha con em mới trả nợ được số tiền anh cho em vay năm xưa, nhưng tấm lòng anh thì cha con em không bao giờ trả nợ được".

Sau khi ra tù, vợ chồng anh K. cũng gặp quá nhiều khó khăn. Nhiều lúc anh K. tưởng cả đời không bao giờ trả nợ được số tiền tôi đã cho anh vay. Nhưng nghĩ đến số tiền của tôi cho vay và số tiền các cán bộ trại cải tạo quyên góp giúp anh mà anh đã vùng đứng lên để vượt qua thử thách. Anh K. nói với tôi không phải là anh phấn đấu để trả nợ một món tiền mà để thực hiện một lời hứa. Điều ấy đối với anh K. quan trọng hơn cả tiền bạc. Cuối cùng anh K. đã thực hiện được lời hứa của mình. Cha con anh K. cũng phải vất vả mới tìm ra nơi ở mới của tôi.

Sau khi ra trại, tôi cũng mấy lần viết thư cho anh K. nhưng sau đó thì không viết nữa. Tôi biết anh K. đã trở về đoàn tụ với gia đình và chí thú làm ăn. Mấy năm trong trại, tôi sống với anh K. và tôi tin con người anh dẫu rằng cuộc đời ai chẳng mắc sai lầm dù lớn hay nhỏ. Tôi không viết thư cho anh K. nữa vì sợ anh hiểu lầm là tôi có ý nhắc nhở số tiền đã cho anh vay.

Câu chuyện của tôi chỉ kể nôm na như thế. Tôi tin chuyện lời hứa của một tù nhân như anh K. là chuyện khó tin nhưng có thật. Bởi số tiền đó sau mười mấy năm cũng không còn giá trị như hồi tôi đưa cho anh. Nhưng lời hứa giản dị của anh K. lại trở thành một món quà quá lớn dành tặng cho tôi. Tôi nghĩ, tôi mới là người cám ơn anh K.

Thu Trang
11-03-2007, 09:57 AM
Đọc những chuyện này muội rất thích, không những người thật việc thật mà hình như nó làm cho người đọc có ý chí vươn lên hơn hay sao ấy.Mỗi người mỗi hoàn cảnh , nhưng cái họ cần vươn lên đó là tình yêu và cuộc sống ! cảm ơn anh nhé!

tnh
11-03-2007, 11:07 PM
Huynh sẽ post những câu truyện tương tự như thế để muội cảm nhận

tnh
12-03-2007, 12:13 AM
Chị là chị dâu tôi hay là thánh thần

Chúng tôi đều nghĩ rằng, chính vì chị đã mang căn bệnh chết người đến cho anh tôi nên chị phải làm tất cả trong im lặng, không một lời kêu ca như để chuộc tội. Nhưng rồi đến một ngày, anh tôi đã kể cho tôi nghe câu chuyện về anh.

Kính gửi Tòa soạn Báo ANTG Cuối tháng!

Hôm nay, tôi xin được viết lá thư này gửi đến Tòa soạn. Lời đầu thư, tôi kính chúc Báo ANTG Cuối tháng an khang thịnh vượng và mỗi ngày một hay hơn. Trong lá thư này, tôi xin được kể câu chuyện về một người phụ nữ mà cho đến bây giờ tôi không biết đấy là chị dâu tôi hay là thánh thần. Tôi nói vậy vì tất cả những gì tôi đã chứng kiến về người phụ nữ này ở ngay trong gia đình tôi gần mười năm.

Chỉ trước khi anh tôi mất chừng một tháng, anh mới kể cho tôi nghe câu chuyện này. Câu chuyện xảy ra đã lâu những tôi vẫn không thể nào quên từng chi tiết nhỏ anh kể cho tôi nghe. Anh tôi mất vì nhiễm căn bệnh thế kỷ. Khi biết anh tôi mắc căn bệnh đó, cả gia đình tôi bàng hoàng, đau đớn. Rồi không ai bảo ai, các thành viên trong gia đình tôi đều nghi chị dâu tôi là người đã truyền căn bệnh đó cho anh tôi. Những ngày tháng đó, một không khí thù hận đối với chị dâu tôi luôn luôn trùm lên gia đình tôi. Chúng tôi đã gặng hỏi, thậm chí truy ép anh tôi nhiều lần về chuyện đó. Nhưng lần nào anh cũng nổi giận và nói gia đình tôi không được phép nghi oan cho chị ấy. Anh tôi nói tất cả là do anh ấy và rất có lỗi với vợ và gia đình nhà vợ.

Không một ai trong gia đình chúng tôi tin chị dâu tôi trong sáng mà vẫn sẵn sàng làm vợ một người mắc căn bệnh thế kỷ. Vì trong mắt của gia đình, anh trai tôi là người con ngoan, người anh gương mẫu và còn là một công chức sáng giá thì làm sao dính vào căn bệnh đó được. Vả lại, những người mắc bệnh này tuổi thọ của họ không cao, bệnh dễ lây và điều quan trọng là khi người đời biết họ sẽ dè bỉu và xa lánh, một căn bệnh nói lên một lối sống sa đọa. Tất cả chúng tôi đều nghĩ, nếu không phải chị dâu tôi truyền căn bệnh cho anh thì sao chị dâu tôi phải chung sống và chăm sóc anh hết mực suốt gần mười năm cho đến ngày anh tôi ra đi.

Tuy gần mười năm sống trong gia đình tôi, chị dâu tôi hết lòng chăm sóc anh tôi và đối xử hết sức hiếu thảo đối với cha mẹ chồng nhưng chúng tôi vẫn mang trong lòng một mối hận vì nghĩ chị dâu tôi đã đưa anh tôi tới cái chết. Chúng tôi đều nghĩ rằng, chính vì chị đã mang căn bệnh chết người đến cho anh tôi nên chị phải làm tất cả trong im lặng, không một lời kêu ca như để chuộc lại một phần tội lỗi của mình. Nhưng rồi đến một ngày, anh tôi đã kể cho tôi nghe câu chuyện về anh.

Trước khi cưới khoảng hai tháng, anh tôi thấy vô cùng mệt mỏi và sút cân. Anh tôi đi khám và vô cùng kinh hoàng khi biết rằng anh có HIV. Sau một tuần, anh cố trấn tĩnh và đã nói hết sự thật với chị dâu tôi. Anh xin chị dâu tôi tha thứ và xin hủy bỏ đám cưới. Nghe tin ấy, chị dâu tôi đã suy sụp tưởng không thể đứng lên được nữa. Nhưng sau đó một tháng, chị gặp anh tôi và nói: "Em muốn chúng ta tổ chức lễ cưới". Anh tôi kiên quyết chối từ. Anh nói lúc đó anh không hiểu vì sao chị lại có thể làm như thế. Nhưng chị dâu tôi đã khuyên giải anh và nói chị ấy không thể bỏ anh trong lúc này. Chị ấy nói vẫn yêu anh và càng thương anh hơn nhiều. Chị muốn ở bên anh tôi để động viên và giúp đỡ anh. Gia đình tôi không hề hay biết chuyện gì và náo nức chuẩn bị lễ cưới cho anh tôi. Chị đã về làm dâu nhà tôi lạ lùng như thế mà chính anh tôi cũng không dám tin đó là sự thật.

Sau khi trở thành vợ anh tôi, chị muốn được sống với anh như một người vợ thực sự. Tất nhiên, chị dâu tôi biết hai người không thể sinh con vì khi quan hệ sinh lý với người mắc căn bệnh này phải dùng phương tiện để ngăn ngừa sự truyền nhiễm bệnh. Tất cả những chuyện đó chị dâu tôi hoàn toàn chủ động. Nhưng anh tôi đã khước từ biết bao nhiêu lần trong gần mười năm chung sống. Chị dâu tôi đã an ủi, động viên và cả giải thích với anh tôi. Nhưng anh tôi đã khóc mang ơn chị và xin chị tha thứ. Có lần anh quỳ trước chị dâu tôi vái lạy và nói: "Em không phải là người, em là thánh thần. Chỉ có thánh thần mới đối xử như thế với anh. Anh xin em, anh lạy em. Kiếp kiếp anh mang ơn em". Anh tôi cũng là một người đàn ông như bao người đàn ông khác.

Trong hai, ba năm đầu của đời sống vợ chồng, nhiều lúc đòi hỏi sinh lý làm anh tôi không sao chịu được. Nhưng trước chị dâu tôi, càng ngày anh tôi càng mang ý nghĩ chị là vị thánh. Chính sự kính trọng đến thiêng liêng mà anh tôi không cho phép mình làm bất cứ điều gì khác.

Anh tôi không hiểu vì sao biết mình mắc căn bệnh hiểm nghèo và sẽ chết dù sớm hay muộn mà anh vẫn cưới chị. Anh tôi vô cùng đau khổ vì chuyện đó. Có phải anh là người ích kỷ chỉ biết đến mình không. Nhưng chị dâu tôi nói là đến với anh tự nguyện, chị yêu anh, hiểu anh. Chị biết lúc này anh đang rất cần có người thân yêu hiểu anh ở bên cạnh. Chính vì tình thương yêu vô bờ của chị đối với anh tôi mà anh không bao giờ nghĩ đến việc chăn gối với chị. Bởi anh hoàn toàn coi chị như một vị thánh và anh tôi chỉ còn sự kính trọng vô cùng thiêng liêng trước chị dâu tôi mà thôi. Gia đình tôi không hay biết gì về chuyện đó mà chỉ thấy anh tôi sống vui hơn và tự tin hơn. Anh thường nói với mẹ tôi là anh tôi có chết cũng không ân hận gì lắm, vì anh đang được sống những năm tháng có ý nghĩa thật sự.

Khi kể câu chuyện của anh chị cho tôi nghe, anh tôi đã hứa với chị dâu tôi không kể câu chuyện này cho ai. Nhưng anh tôi thấy phải kể cho tôi biết chị dâu tôi là một người như thế nào. Quả thực lúc đầu tôi hết sức bàng hoàng. Tôi không nghĩ trên đời này lại có những con người dám hy sinh cá nhân mình và có một tấm lòng nhân ái rộng lớn đến như vậy mặc dù chị dâu tôi cũng chỉ là một người phụ nữ bình thường như hàng triệu người phụ nữ khác trên thế giới.

Sau khi đoạn tang chồng, chị dâu tôi xin được trở về nhà mẹ đẻ. Lúc ấy gia đình tôi đã biết được chị hy sinh cho anh tôi như thế nào. Ngày chị dâu tôi rời gia đình tôi, cả nhà tôi khóc tiễn chị. Tôi đã quỳ xuống trước chị như anh tôi ngày nào và rập đầu lạy chị. Bản thân lòng tôi lúc đó cũng đã coi chị như Phật sống. Chỉ có một tấm lòng đầy Phật tính mới có thể sống nhân ái và dám hy sinh vì sự đau khổ của người khác như chị dâu tôi.

Kính thưa Tòa soạn!

Sau đó, chị dâu tôi có đi bước nữa tuy lúc đó chị đã 37 tuổi. Một người đàn ông đã thực sự thương yêu chị và bước qua mọi dị nghị, đồn đại để đến với chị. Thế rồi họ đã sinh được một đứa con trai kháu khỉnh. Gia đình nhỏ của chị đã sống thật hạnh phúc cho đến bây giờ. Tôi viết lá thư này và muốn được đăng trên báo không phải để thanh minh một điều gì đó cho chị mà để một lần nữa cúi lạy trước chị. Tôi cũng muốn mọi người biết câu chuyện này và hiểu rằng trong cuộc đời có những con người đã hy sinh vì người khác như vậy. Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhiều lúc thẫn thờ và tự hỏi: Chị là chị dâu tôi hay là thánh thần.

tnh
12-03-2007, 12:19 AM
Ba tôi, niềm tin của tôi vào thế giới

Trong mất mát, ba lại càng dồn tất cả tình yêu thương của mình cho tôi. Tôi rong ruổi cùng ba khắp mọi nơi, kể cả khi ba đi hẹn hò với bạn gái. Khi được ai đó làm mai, ba thường nói với mọi người, tôi là điều kiện để ba tiến thêm bước xa hơn với một người phụ nữ.

Kính gửi Ban Biên tập ANTG Cuối tháng!

Đã đọc nhiều bài viết rất cảm động trên trang "Chuyện khó tin nhưng có thật" của tờ ANTG Cuối tháng, gần như lần nào tôi cũng rơi nước mắt, tôi quyết định gửi cho Quý báo bài viết về ba mẹ nuôi của tôi. Trên khuôn khổ của tờ báo, tôi xin được viết trước về ba nuôi bởi ba và mẹ là hai người cho tôi những dấu ấn riêng biệt trong cuộc đời của mình.

Thực ra, tôi định viết tự sự từ lâu để sau này cho các con tôi đọc, để chúng hiểu hơn về mẹ mình, để chúng biết thương yêu mọi người và sống có ích hơn. Và đây cũng chính là lòng biết ơn của tôi đối với ba nuôi và mẹ nuôi, những người đã có công nuôi tôi khôn lớn. Mặc dù thời gian đó chưa phải là dài nhưng cũng đủ giúp tôi có thêm tình yêu thương ấm áp, làm cho tuổi thơ của tôi được đẹp hơn, và nhờ đó tôi mới thấy cuộc sống ý nghĩa hơn. Đúng như vậy, trên những nẻo đường đời, có nhiều kẻ làm cha không tròn trách nhiệm, bỏ rơi con mình, nhưng cũng có rất nhiều người có tấm lòng nhân ái, đã có một tình thương vô bờ bến với những đứa trẻ không do mình sinh ra. Và một trong những con người nhân hậu ấy là ba nuôi của tôi!

Tôi sinh ra không được may mắn như những đứa trẻ bình thường khác. Tôi được ba mẹ nuôi đón về để gia đình có tiếng cười con trẻ, để được cảm nhận tình yêu của người cha, người mẹ như bao cặp vợ chồng khác khi biết chắc chắn rằng mình không thể có con. Lúc đó ba mẹ tôi cũng tương đối lớn tuổi rồi. Trong mắt mọi người, tôi như cô bé lọ lem. Ba mẹ đã dành tất cả những gì tốt nhất cho tôi. Thậm chí, có nhiều em bé cùng trang lứa đã nhìn tôi thèm thuồng bởi những gì tôi có, có thể chúng không mang giá trị vật chất nhưng ít có ba mẹ nào lại chăm chút đầu tư cho con nhiều như thế khi quỹ thời gian không cho phép. Đó là những chiếc gụ thật mịn màng, những chiếc đèn ông sao xinh xắn vào dịp Trung thu, những chiếc chong chóng đủ các loại hay những chiếc xe đẩy bằng ống bơ có que tre làm tay cầm kêu tanh tách... Tất cả vẫn còn đầy ắp trong ký ức của tôi.

Rồi vào năm 1975, khi tôi lên năm tuổi, miền Nam giải phóng. Từng đoàn, từng đoàn xe tăng chạy rần rần qua phố tôi ở, có các chú bộ đội ngồi trên nóc xe tăng rạng rỡ giơ tay vẫy chào. Mặc dù còn bé, nhưng được ba và cô giáo dạy nên tôi rất yêu quý và tự hào về các chú bộ đội. Tôi cùng mọi người dân ồ ra đường chào mừng, đón các chú bộ đội. Trong niềm vui ngày đất nước thống nhất, đêm đó ba mẹ tôi trầm tư, im lặng, ai cũng như muốn khóc. Mẹ nuôi tôi nhận được tin người chồng cũ đã hy sinh trong chiến trường B vẫn còn sống và ra Bắc tìm vợ. Ba để mẹ quyết định, và cuối cùng, với bản lĩnh của người đàn ông nhân hậu, ba nói: "Người có công với đất nước phải được hưởng hạnh phúc và được bù đắp xứng đáng". Từ đó, ba tôi trở thành "Gà trống" nuôi con. Trong mất mát, ba lại càng dồn tất cả tình yêu thương của mình cho tôi. Tôi rong ruổi cùng ba khắp mọi nơi, kể cả khi ba đi hẹn hò với bạn gái. Khi được ai đó làm mai, ba thường nói với mọi người, tôi là điều kiện để ba tiến thêm bước xa hơn với một người phụ nữ. Nếu họ yêu cầu ba trả tôi về với mẹ đẻ thì ba sẽ từ bỏ mối tình đó luôn. Tôi cũng không thể hiểu tại sao ba lại thương tôi đến vậy. Khi ba bị mổ dạ dày, không ai chăm sóc tôi, ba phải gửi tôi về bên ngoại của mẹ nuôi. Tôi được đưa đến thăm ba, lúc tỉnh mê, ba gọi ngay tên tôi. Ba thường tự hào về tôi với mọi người, ba khoe tôi như là báu vật. Bây giờ có gia đình, có con cái, tôi lại càng xúc động hơn với những gì ba đã dành cho tôi.

Có một lần, khi đang chơi đùa với bạn, tôi nghe mấy người lớn kể cho nhau về tôi, rằng tôi không phải con ba. Mặc dù còn rất nhỏ, khoảng năm tuổi nhưng nhạy cảm, tôi đã nức nở òa khóc và chạy về hỏi ba. Rất lo lắng, ba đã bịa ra một câu chuyện như thật để minh chứng tôi là do ba đẻ ra và từ đó có ai nói gì đi nữa tôi cũng không tin và nghĩ rằng chỉ có ba là người nói đúng.

Những kỷ niệm về tuổi thơ, mặc dù cách đây khoảng ba mươi năm nhưng những hình ảnh cùng ba vui đùa, tôi không bao giờ quên được. Ba đã cố gắng làm những con diều nhỏ cho tôi thả. Ba ráng với hái những chùm hoa dẻ trên cao mà tôi thích trên đường đi thăm cô ở một miền thôn quê, hay cách ba cặm cụi dạy tôi gói bánh chưng ngày Tết hoặc chăm sóc những cây thược dược như thế nào để hoa vừa kịp nở trong dịp Tết, hai cha con cùng đốt gốc cành đào, cùng trang trí bàn thờ ngày Tết... Mỗi lần bọc sách vở năm học mới cho con, tôi lại nhớ tới ba, có khi bật khóc. Tôi rất thích biển, vậy là khi nào có dịp thuận tiện, ba lại ráng chở tôi bằng xe đạp ra biển để tôi được nhặt vỏ sò, nghịch cát, mặc dù đường đi mất nhiều cây số. Tất cả như còn đây. Hãy cho phép tôi được cảm ơn ba thật nhiều. Nếu không có ba, tôi có thể cảm thụ được cái đẹp, cái tốt như ngày hôm nay không? Cuộc đời đầy chông gai, tôi thường tự hỏi không biết có phải nhờ ba mà đã hình thành một phần nào tính cách của tôi bây giờ?

Ba tôi đi bước nữa. Sự ác cảm về mẹ kế qua những câu chuyện cổ tích đã làm tôi luôn đối đầu với người mẹ mới. Khi mẹ nuôi về, tôi quyết định trốn đi cùng với mẹ nuôi mặc dù rất thương ba. Hồi đó, tôi cảm thấy ba có lỗi vì không giữ lời hứa như đã nói với mẹ trước mặt tôi, rằng nếu được nuôi tôi, ba sẽ không bao giờ đi bước nữa. Tôi quá nhỏ để hiểu rằng ba cũng cần phải có hạnh phúc riêng. Vì lo sợ mất tôi, ba đã cầu cứu tới mẹ đẻ của tôi. Bởi tôi về với mẹ đẻ, ba còn có cơ hội được gặp tôi, nếu tôi vào Nam thì ba không được nhìn thấy tôi nữa... Rồi sau đó, những chiều tan học, tôi lại nhìn thấy ba ủ rũ đón chờ tôi. Ba năn nỉ tôi về với ba mà đến nay nhiều đêm nghĩ lại tôi vẫn còn cảm thấy đau xé lòng. Là cô bé có hoàn cảnh và cá tính, tôi không thể theo ba về, mặc dù nhiều khi tôi rất ước ao được trở về trong tình thương của ba. Không hiểu sao, hồi đó chỉ mới là một bé con mà tôi lại khôn đến thế. Và từ đó tôi xa ba mãi. Tôi không ở với ba, không được ba tiếp tục chăm sóc nhưng tôi luôn nghĩ về ba với những gì đẹp nhất. Nay ba tôi không còn nữa, tôi cũng đủ lớn khôn để hiểu cuộc đời hơn và càng thấy trân trọng những gì ba đã dành cho tôi.

Sống với ba chỉ được độ sáu năm, khoảng từ ba tuổi đến chín tuổi nhưng tất cả in sâu trong tôi vì ba cho tôi quá nhiều. Sau này ba nuôi thêm một bé trai và ba cũng dành tình thương tương tự cho em như đã dành cho tôi. Ba lại xây đắp cho em tôi hình ảnh chúng tôi là chị em ruột với nhau, được ba sinh ra. Ba vun đắp cho em ước mơ sau này lớn lên sẽ được vào Nam sống cùng chị vì ba đã quá già yếu. Khi ba mất, em nấc lên đau đớn qua điện thoại với tôi, mặc dù lúc đó em vẫn còn nhỏ. Tất cả chúng tôi, những đứa trẻ không do ba sinh ra nhưng đều được ba dành hết trái tim của người cha cho mình. Ngày hôm nay đây, tôi lại có thêm một sứ mệnh nữa, đó là viết lời cảm tạ với ba giùm em vì em không thể viết như tôi để mọi người cùng cảm nhận. Tai nạn giao thông đã cướp mất em rồi, ở tuổi mười tám cách đây không lâu. Một sự thật mà đến nay tôi vẫn chưa hết bàng hoàng và choáng váng...

Tôi buồn vì không được chính người cha đẻ của mình chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tôi thực sự cảm ơn ông trời đã cho tôi gặp ba. Tôi tự hào vì thế giới này có ba. Tôi không phụng dưỡng được ba vì điều kiện nhưng với lời tự bạch này, ở dưới suối vàng, ba sẽ vui vì có tôi luôn nghĩ về ba. Tôi cũng cảm ơn Quý báo đã giúp tôi có điều kiện để thổ lộ lòng mình, để nhiều người được biết về ba, mặc dù tôi không giới thiệu đích danh ba tôi vì lý do tế nhị.

Và qua bài viết này, tôi tin chắc rằng, khi đọc xong, nhiều người trong chúng ta sẽ thêm tin yêu cuộc sống và cảm thấy mình phải có trách nhiệm hơn với cuộc đời. Và biết đâu ở một phương trời nào đó, người cha đã sinh ra tôi sẽ đọc được những dòng chữ này, sẽ rất day dứt ân hận và phải tự hỏi lòng mình... Nhiều khi tôi rất buồn và mặc cảm vì số phận mình không được may mắn như những người bình thường khác. Nhưng sau đó, nghĩ về ba, tôi lại bình tâm và cảm thấy ấm áp, tôi lại lấy được thăng bằng vì thực sự xung quanh tôi còn có những tấm lòng nhân ái bao la và có những mảnh đời còn bất hạnh hơn tôi rất nhiều. Ít ra, nay tôi cũng có được cuộc sống mà nhiều người thầm mong.

Đặng Lệ Thủy
12-03-2007, 02:54 PM
Những câu chuyện bạn đưa lên thật hay thật cảm động, mình mới chỉ đọc 1 truyện mà đã không cầm được nước mắt rồi :) Cám ơn tnh nhé :p

SunnyLee™
12-03-2007, 03:34 PM
mờ sao toàn công nghệ copy and paste thế nài, hờ hờ , mai cũng ra tạo 1 topic cho oai mới được

tnh
12-03-2007, 10:08 PM
mờ sao toàn công nghệ copy and paste thế nài, hờ hờ , mai cũng ra tạo 1 topic cho oai mới được
Bạn nói đúng rùi đấy, công nghệ này còn đc sử dụng nhiều, người đi trước truyền lại cho người đi sau, nếu bạn giỏi thật sự thì hãy ngồi viết ra những câu truyện hay và ngồi đánh từng chữ đi. :(

tnh
15-03-2007, 10:24 PM
Mẹ em đã bị "chôn sống" trong ngôi nhà của mình
Đêm đó mẹ em đã uống thuốc tự tử nhưng không thành. Sau lần ấy bố em nói thẳng: “Nếu cô tự tử, tôi sẽ trả hai đứa con về nhà mẹ cô. Nếu cô thương chúng nó thì sống mà nuôi chúng nó”. Mẹ em hiểu bố em nói như vậy và sẽ làm như vậy. Từ ngày đó, mẹ em không bao giờ có ý định tự tử nữa.

Kính thưa Tòa soạn!

Em xin phép được giấu tên em và tên những người liên quan trong lá thư này. Tất nhiên khi lá thư này được in lên báo, thì chắc nhiều người trong gia đình, họ hàng và những người ở cơ quan bố mẹ em đều biết câu chuyện này nói về ai và ai viết câu chuyện đó.

Cách đây không lâu, em có viết một lá thư gửi cho bố em đang ở trong tù và đặt câu hỏi mà em đã từng hỏi mẹ em: “Tại sao bố mẹ không chia tay nhau?”. Có thể em còn trẻ nên không hiểu hết lẽ đời. Mẹ đã chôn vùi cả tuổi xuân của mẹ trong ngôi nhà này.

Em sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà em rất tự hào. Bố em là một cán bộ có quyền chức, luôn có người đến thăm bố em, nhờ vả việc này việc nọ và biếu xén quà cáp. Ai nhìn vào cũng đều nghĩ mẹ em là một người hạnh phúc. Trước đây em cũng nghĩ như vậy. Nhưng sự thật lại không như vậy. Vì là người có quyền chức, bố em được mời tiệc tùng suốt ngày có nhiều đêm không về. Đến một ngày, em nghe lời bàn tán bóng gió rằng bố em đã có một người đàn bà khác. Lúc đầu em không tin. Nhưng một hôm em nhận được một lá thư nặc danh gửi cho em. Trong thư nói bố em đang chung sống và đã có con với người đàn bà này. Người viết thư còn cho em biết cả địa chỉ. Đọc lá thư đó, em rất thất vọng và đau khổ.

Như vậy chuyện bố em có người đàn bà khác là thật. Em tìm đến theo địa chỉ và đã nhìn thấy bố em đến đó. Bố em xuống xe từ đầu phố và đi bộ vào ngôi nhà này. Sau này em biết bố em đã mua ngôi nhà cho người đàn bà trẻ ấy. Cuối cùng, em gặp bố và yêu cầu nói ra sự thật. Bố đã tát em và nói không được phép thọc mũi vào những chuyện người lớn.

Một ngày, khi lấy hết can đảm, em đã nói với mẹ chuyện em nhìn thấy. Em nghĩ mẹ em có thể ngất đi vì đau đớn. Nhưng thật sự kinh ngạc khi thấy mẹ em nghe xong chỉ ngồi lặng đi giây lát rồi mỉm cười cay đắng và nói: “ Mẹ biết tất cả những chuyện đó. Nhưng mẹ khổng thể làm gì khác được”. Em gào lên: “Sao mẹ biết mà mẹ không ngăn cản”. Mẹ im lặng không nói gì.

Sau này khi đã trưởng thành và đã có gia đình riêng, mẹ em đã kể cho em nghe tất cả những gì về bố. Mẹ em thực sự đã sống như một người tù khổ sai trong chính gia đình mình. Khi có mặt mẹ và hai chị em, bố em vẫn bình thản cười nói với mẹ. Nhưng khi các con vắng mặt thì bố đối xử với mẹ em như một người nô lệ. Bố em để cả ảnh và thư từ của người đàn bà trẻ kia trong phòng ngủ mà không cần ý tứ. Có lần, bố em đã đưa người đàn bà kia về nhà khi chúng em về quê ngoại trong dịp nghỉ hè. Đêm ấy, bố bắt mẹ sang ngủ ở phòng của em và để phòng bố mẹ cho người đàn bà kia ngủ. Nỗi đau đã đến tột cùng. Đêm đó mẹ em đã uống thuốc tự tử nhưng không thành.

Mẹ em nói, lúc đầu không biết vì sao bố em có nhiều tiền như vậy. Chỉ khi bố bị bắt thì mẹ em mới hiểu hết ngọn ngành. Tuy có nhiều tiền, nhưng bố chỉ đưa tiền cho mẹ chi tiêu từng tuần và thường hay kiểm tra việc chi tiêu. Thi thoảng bố em mở tủ mang một đống tiền ra ngồi đếm, rồi sau đó mang đi đâu không biết. Có thể mang tiền cho người đàn bà trẻ kia. Có thể mang tiền gửi vào tài khoản riêng của mình. Cũng có thể bố em mang tiền cho một người nào đó như những người khác đã mang tiền đến cho bố em. Nhưng tồi tệ hơn là khi không có mặt các con, bố đã chửi rủa mẹ như chửi rủa một con chó. Em đã khóc và hỏi mẹ sao không chia tay với bố. Mẹ em chỉ im lặng. Em cũng không hiểu vì sao mẹ em lại có thể chịu đựng được cuộc sống như vậy?

Thế rồi trồng cây gì thì được quả ấy. Bố em bị cơ quan pháp luật bắt vì tội tham nhũng và tiếp tay cho những kẻ xã hội đen. Từ ngày bố em bị bắt vào tù, những người trước kia ngày đêm vây quanh bố không còn thấy đâu nữa. Cho đến giờ, bố em đã ở trong tù được năm năm nhưng chưa hề có một người nào từng nhờ vả, nịnh nọt trước đây vào thăm. Kể cả người đàn bà đó. Chỉ có một người duy nhất hằng tuần vẫn lặng lẽ chuẩn bị tất cả những gì có thể để vào thăm. Đó là mẹ em. Cứ đến tối ngày thứ bảy là mẹ lại ngồi gói ghém cẩn thận từng thứ và xếp vào một chiếc túi to để sáng chủ nhật đi xe sớm lên trại giam thăm bố. Thường đến tối mịt mẹ mới trở về. Lần nào về mẹ cũng vào buồng nằm im lặng chẳng ăn uống gì cho tới khuya mới dậy và cũng chỉ nói một câu: “Bố khỏe. Bố hỏi thăm các con”

Cho đến bây giờ đã có gia đình riêng, nhưng em chưa bao giờ hiểu được vì đâu mẹ em lại có thể sống và hành động được như thế. Bố đã phản bội mẹ và tồi tệ hơn là bố đã hành hạ tinh thần mẹ hơn hai mươi năm qua. Bố chưa bao giờ coi mẹ là một người vợ, một người bạn mà chỉ coi mẹ như một con ở, như một người nô lệ của riêng mình. Mẹ có quyền chia tay. Nhưng mẹ đã không làm thế. Mẹ em đã tồn tại với một cuộc sống thật kinh khủng như vậy hơn hai mươi năm. Làm sao mẹ lại có thể sống im lặng và nhẫn nhục như thế. Không ít lần, bà ngoại và chúng em khuyên mẹ hãy chia tay với bố. Ngay cả đến lúc này, khi chúng em đã trưởng thành, đã đủ khả năng tự lập, nhưng mẹ vẫn nói: “Bà ngoại và các con đều đúng. Nhưng mẹ không thể làm như vậy”. Hơn hai mươi năm qua, em thấy mẹ em hoàn toàn là một người bị chôn sống trong chính ngôi nhà của mình. Em chẳng thể nào hiểu được mẹ em và có lẽ chẳng bao giờ hiểu được và tin được trên đời này lại có một người sống được như vậy.

tnh
15-03-2007, 10:36 PM
Tôi vị tha hay nhu nhược?

Thế là tôi quyết bảo vệ ông ấy đến cùng. Ai bảo chồng tôi có con riêng tôi đều gạt phắt. Ai xui tôi đi kiện, tôi bảo rỗi hơi. Tổ chức đến nhà nắm tình hình, tôi bảo rằng gia đình tôi yên ấm, hạnh phúc, tôi không có gì phàn nàn về ông ấy cả. Chuyện người, chuyện đời thế gian cười 3 tháng chứ ai cười 3 năm.

Kính thưa các anh chị ở tòa soạn Báo An ninh thế giới cuối tháng!

Tôi không nghĩ rằng sẽ có lúc phải kể câu chuyện đau lòng này ra, câu chuyện mà suốt bấy nhiêu năm tôi hằng chôn sâu cất kín trong lòng, tôi đã tự hỏi mình rất nhiều lần rằng tôi là một người đàn bà vị tha hay nhu nhược. Có thể, mãi mãi tôi giữ chặt nó cho riêng mình nếu như không có cái ngày mà con gái đầu lòng của tôi đã về sau khi mừng tuổi mẹ đầu năm đã quỳ xuống trước mặt tôi khóc ròng và hận tôi làm cho anh chị em nó phải chịu điều nhục nhã. Lòng người mẹ một đời vì chồng vì con như tôi đã đau như bị dao cắt. Trong sự bối rối đến cùng cực, tôi chỉ còn biết viết thư cho các anh chị trong tòa soạn, những mong nhận được một lời khuyên sáng suốt, chân tình để giúp tôi thoát khỏi sự khủng hoảng này.

Câu chuyện xảy ra cách đây đã gần 40 năm, và thực ra, nó chưa bao giờ kết thúc. Lúc đó, chồng tôi đang là cán bộ Đoàn xã, còn tôi đang ở cữ sinh đứa con gái đầu lòng. Cuộc hôn nhân của tôi khiến cho bao trai gái trong làng phải thầm ghen tị vì tôi lọt vào mắt xanh của anh Bí thư đoàn xã hiền lành, đẹp trai, năng nổ.

Nhà tôi ở sát một con kênh đào chạy qua. Sáng sáng, các bà các cô trong làng đều ra bến nước để giặt giũ và đó cũng là nơi để cả làng nói chuyện trên trời dưới bể. Và chuyện chồng tôi có tình nhân cũng bắt đầu nghe được từ đây. Người đó chẳng phải ai xa lạ chính là cô Yến ở xóm bên. Tôi nghe ngóng, dò hỏi và bao đêm khóc thầm, gối đẫm nước mắt cho đến ngày cô Yến sinh nở. Cả làng trên xóm dưới xôn xao, tiếng đồn ngày càng dữ, không chỉ tôi đứng ngồi không yên mà chồng tôi cũng không giấu được nỗi lo lắng sợ mất cái chức đang có và cũng rơi luôn cả chức đội trưởng sản xuất mà chồng tôi đang phấn đấu.

Hàng xóm và gia đình bên ngoại nhất quyết bắt tôi đến gặp cô Yến làm cho ra chuyện. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tức thì tức thật nhưng sợ làm to chuyện chồng tôi xấu hổ, mà không chừng chồng tôi sẽ đến ở với cô Yến thì vợ sẽ mất chồng, con sẽ mất bố. Với lại ở nông thôn quê tôi, quan niệm hãy còn nặng nề: “Có chồng mới gọi bằng bà/ Không chồng thì gọi là da lợn lòi”. Nghĩ sao làm vậy, tôi quyết giành giật lại chồng tôi. Ngày Yến sinh con trai, tôi gạt nước mắt gắng gượng gánh một gánh gạo đầy và 5 cân nếp tới nhà Yến. Tôi van xin cô ấy hãy buông tha chồng tôi, bởi dù sao tôi cũng đang là vợ của anh ấy. Giờ đây cô đã có một đứa con là giọt máu của anh ấy để an ủi. Nếu cô thương tôi và vẫn còn yêu anh ấy thì hãy đừng khai nhận với mọi người đây là con của anh Hiếu chồng tôi.

Mọi chuyện rồi cũng êm xuôi. Tôi vẫn một mực chiều chuộng chồng tôi như chưa có chuyện gì xảy ra. Chúng tôi có thêm 4 cháu trai nữa. Năm 1968, giặc Mỹ đánh phá ra miền Bắc dữ dội. Chúng thả bom và pháo kích từ biển vào. Quê tôi, cả làng nhà ai cũng đào hầm trú ẩn. Dân quân cũng đào sẵn các hầm cá nhân ở hai bên đường đi, nếu giặc Mỹ ném bom, người đi đường còn có chỗ mà tránh. Và trớ trêu thay, trong một trận bom, chồng tôi lại có với cô Lành góa chồng một đứa con trai nữa trong lần nhảy hầm tránh bom cùng chị ta. Nuốt hận vào trong, gạt nước mắt một lần nữa, tôi lại gồng gánh gạo nếp xôi gà đến biếu và nói khéo với cô Lành để cô im lặng không khai đứa trẻ trong bụng là của ai.

Tất nhiên, cô Lành cũng như cô Yến đều chiều theo ý nguyện của tôi mà cắn răng mang tiếng chửa hoang chứ nhất quyết không khai cha của những đứa trẻ. Họ nói với tôi cảnh góa bụa quá sớm, chỉ xin chồng tôi một đứa con sớm tối vui vầy chứ không có ý định cướp chồng tôi và hứa cắt đứt quan hệ với chồng tôi. Tội nghiệp thân tôi, cứ nghĩ đến những ngày ấy là nước mắt tôi lại ứa ra. Gia đình tôi giữ được yên ấm thì búa rìu dư luận lại bổ xuống đầu tôi. Người làng nói xa nói gần, có người nói thẳng vào mặt tôi là tôi có mắt giả mù, có tai giả điếc. Họ còn hát vè bóng gió chuyện của tôi: “Đói lòng ăn nắm lá sung/ Chồng một thì lấy chồng chung thì đừng”. Họ bảo tôi nhu nhược, mắc bùa mê thuốc lú của chồng tôi. Thú thực, lòng dạ có đau đớn ghen tuông, song tôi vẫn còn yêu chồng tôi quá nhiều và luôn có một niềm tin không dễ gì lay chuyển được là chồng tôi vẫn yêu tôi, yêu các con. Bây giờ chồng tôi đã là Bí thư đảng ủy xã, tôi không thể nào hắt đổ bát cơm các con đang ăn, cũng như xô đổ cái ghế anh ấy đang ngồi.

Tôi sống êm đềm với chồng tôi cùng lũ con lúc này đã ngót nghét 10 đứa cả trai lẫn gái. Ngày đi làm đồng, tối về nhận nan của hợp tác xã đan lát thêm, nhằm kiếm công đổi thóc ăn cho gia đình đỡ túng thiếu. Thế rồi, một lần nữa chồng tôi đã làm tôi quị ngã vì thói trăng hoa của mình.



Sáng hôm ấy, khi cùng các con lên nhận nan ở đội sản xuất, ông đội trưởng không muốn cho tôi nhận cứ chần chừ bảo hết nan rồi. Chờ mãi đến trưa tôi đi thẳng lên văn phòng hợp tác xã thì nghe được tiếng ông đội trưởng nói nhỏ với mấy người ngồi bên: “Ông Hiếu lại ăn nằm với cô Lê kế toán hợp tác xã có chửa rồi. Vợ ông ấy đó, có lẽ bà ấy bị câm hay chập mạch mới chịu được ông chồng sa đọa như thế. Đừng chia nan cho nhà bà ấy nữa, để vợ chồng đói rách, sinh ra cắn nhau, cho ông Hiếu lo làm ăn không bụng dạ nào mà nghĩ đến đàn bà nữa”. Tôi choáng váng, suýt ngất xỉu giữa sân hợp tác trong cái nắng chang chang trưa tháng 6. Thất thểu lê chân về đến nhà, tôi gọi đàn con ra và ôm lấy chúng khóc òa lên. Lần đầu tiên sau chục năm chịu nhịn, tôi đã khóc như mưa như gió, tức tưởi nói với các con: “Chuyến này cả nhà chết đói các con ơi, hàng xóm thì chê cười mẹ ngu muội, dốt nát. Họ hàng khinh rẻ xa lánh, hợp tác thì không chia nan cho nữa, biết lấy gì để sống đây các con ơi”. Tôi vừa khóc vừa gào vì tất cả những uất ức nén chịu trong suốt 20 năm trời giờ đây vỡ òa ra. Tôi không có gì mà mất, cũng chẳng còn gì để giữ nữa. Ông ấy nằm trên nhà lẳng lặng chứng kiến tất cả mà không nói năng gì. Suốt 3 ngày liền ông cứ nằm không ăn, không uống. Các con tôi đưa cơm vào, ông ấy bảo: “Ai cũng chê cười, khinh rẻ, chỉ còn có vợ con là chỗ dựa duy nhất mà cũng nói bóng nói gió thì ông còn ăn, còn sống làm gì nữa”. Ông ấy thanh minh chỉ vì thương mấy người phụ nữ kia thiếu thốn tình cảm, không nơi nương tựa lúc tuổi già nên đã làm từ thiện giúp đỡ cho họ có đứa con thôi.

Nghe ông phân trần, lòng người đàn bà còn nặng tình với chồng cũng phần nào nhẹ nhõm. Xét cho cùng tôi thấy chồng tôi cũng xuất phát từ ý tốt, từ lòng cao thượng. Thế là tôi quyết bảo vệ ông ấy đến cùng. Ai bảo chồng tôi có con riêng tôi đều gạt phắt. Ai xui tôi đi kiện, tôi bảo rỗi hơi. Tổ chức đến nhà nắm tình hình, tôi bảo rằng gia đình tôi yên ấm, hạnh phúc, tôi không có gì phàn nàn về ông ấy cả. Chuyện người, chuyện đời thế gian cười 3 tháng chứ ai cười 3 năm.

Giờ các con tôi đã lớn, cháu chắt nội ngoại hai bên đã 12 đứa. Hai người phụ nữ là cô Yến và cô Lành đều đã mất cả, hai đứa con của họ đều dắt díu nhau về gặp rồi xin lỗi tôi thay cho mẹ nó và xin nhận bố, nhận anh em. Tôi vui lòng cho họp các con lại, nói với chúng: Đây là 2 người anh em cùng cha khác mẹ với các con. Chúng thiếu thốn tình cảm từ thơ bé, các con nên bù đắp cho cả hai anh em về tình cảm lẫn vật chất. Các con tôi ngoan ngoãn vâng lời. Chúng không hề hé răng chỉ trích bố hay ghét bỏ hai người anh em ruột thịt. Riêng thằng bé con cô Lê nó kiên quyết không chịu nhận bố vì nó bảo nó không có một người bố như thế, đẻ con ra mà không dám nhận con. Nó đã đưa mẹ nó vào Nam để đoạn tuyệt với quá khứ, xóm giềng.

Tôi năm nay đã 65 tuổi rồi, tôi mãn nguyện với những gì mình đã hy sinh chịu đựng vì các con và trên hết là vì chồng tôi. Hạnh phúc đã đến ngày hái quả, con cháu dâu rể đề huề, một sân hòe quế bốn bề ấm êm. Ấy vậy mà tết Ất Dậu năm nay, các con tôi về tề tựu đông đủ. Ăn tết xong, con gái đầu lòng của tôi đã quỳ xuống trước mặt tôi và òa lên nức nở. Cháu nói rằng: “Mẹ ơi! Mẹ làm hư bố. Mẹ nhu nhược quá, mẹ đã để bố con theo hết người này đến người khác, có đứa con rơi này, đến đứa con vãi khác. Mẹ làm thế là bôi gio trát trấu vào mặt chúng con... Chúng con không cất mặt lên được để mà nhìn thiên hạ”. Tôi khẽ khàng: “Chuyện gì mà con lại oán trách bố mẹ vậy. Chuyện cũ qua lâu, năm mới nhắc lại làm gì”. Con tôi càng nức nở: Hôm qua, chồng con bảo: “Bố mày tốt đẹp lắm đấy à. Có tới 3 đứa con rơi, không biết chừng cha nào con nấy thì nói gì được ai. Ôi mẹ ơi, con chết nhục vì bố mẹ đấy. Tại mẹ quá nuông chiều bố, nếu ngay từ đầu mẹ làm to chuyện, kiên quyết ngăn cản bố thì làm chi có chuyện như hôm nay”.

Các anh chị ơi! Suốt 40 năm, tôi cắn răng chịu đựng là vì chồng và các con, là vì nỗi đau mình tôi gánh chịu. Nhưng khi nỗi đau ấy hành hạ sang cả con gái tôi, để nó oán trách tôi thì tôi không thể chịu đựng được. Tôi rất hiểu tâm trạng của con và càng thương con. Con tôi nói đúng hay sai? Tôi đã sai trong suốt chừng ấy năm hay chồng tôi sai? Tôi là người đàn bà cao thượng, có lòng vị tha, hay tôi nhu nhược đớn hèn? Suốt 40 năm, tôi chưa bao giờ gục ngã vì đau đớn, nhưng trước những lời kết tội của con gái tôi, tôi đã sụp đổ. Tôi buồn, tôi ốm từ tết đến giờ mới gượng dậy nổi để viết bức thư này gửi tới các anh chị trong trong tòa soạn, nhằm tâm sự với báo cho vơi bớt nỗi buồn. Xin các anh chị ở tòa soạn báo hãy cho tôi một lời khuyên