PDA

View Full Version : Chuyển loại vũ khí để đánh địch


Ma Doãn Điệp
15-10-2010, 10:44 PM
“Lấy vũ khí địch đánh địch” vốn là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong nghệ thuật quân sự Việt Nam, được phát huy trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975.

Tuy nhiên, khác với thời đại trước, để chiếm giữ vũ khí địch tăng cường sức mạnh quân đội, làm rối loạn hàng ngũ đối phương, các cán bộ, chiến sĩ của ta phải vận dụng trí tuệ, khắc phục sự khác biệt về hệ vũ khí. Thậm chí có trường hợp phải đổ máu để giành mẫu nguyên bản, phục vụ cho công tác nghiên cứu.

“Chuyển loại” kỷ lục trong 5 ngày

Một trong những thành tích “lấy vũ khí địch đánh địch” đáng nhớ nhất trong lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam là chiến công của Phi đội Quyết thắng, sử dụng máy bay A-37 ném bom sân bay Tân Sân Nhất, ngày 28/4/1975.

Theo thiếu tướng Phạm Ngọc Lan, người từng tham mưu trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất: Sau khi tiếp quản máy bay A-37, ngay lập tức, phi công của ta tập trung “chuyển loại” (học lái loại máy bay mới) trong vỏn vẹn 5 ngày. Đây là quãng thời gian có thể được xếp vào hàng kỷ lục. Vì quá trình “chuyển loại” thông thường đã kéo dài hàng tháng, thế nhưng, đây lại là “chuyển loại” giữa hai hệ máy bay TBCN và XHCN, có nhiều sự khác biệt.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20100430/khcnttphamngoclan.jpg
Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan (khi đó là thiếu tá phi công) bước xuống sau chuyến bay thử máy bay A-37 thu hồi được của địch. Ảnh tư liệu

Trong thời gian này, các phi công của phi đội Quyết thắng đã chạy đua với thời gian để làm quen với ở hệ thống phanh, hệ đo lường, cách sắp xếp đồng hồ ở buồng lái. Thậm chí, giữa cái nóng hầm hập ở sân bay Đà Nẵng giữa những ngày tháng 4, phi công Hán Văn Quảng và Nguyễn Văn Lục còn chui vào buồng lái để thao tác nút bấm, đồng hồ đến khi thành thạo mới thôi.

Ngoài phi công, các thợ máy của không quân ta cũng phải nhanh chóng nắm bắt cấu tạo máy bay mới thu hồi của địch để sửa chữa, đảm bảo số lượng, khả năng tác chiến của máy bay tham gia phi đội chiến đấu.

Nhờ vậy, ngày 28/4/1975, cuộc tập kích của phi đội Quyết thắng đã phá hủy 24 máy bay địch ở Tân Sơn Nhất, reo rắc sự hoang mang tột độ trong lòng địch. Trong cuộc tấn công, đài đối không của hốt hoảng la hét: “A-37 của không đoàn nào? A-37 của không đoàn nào?”, phi công Từ Đễ đã bình tĩnh đáp trả “A-37 do Mỹ chế tạo đó”, trước khi cắt bom.

Nhớ về trận đánh lịch sử, thiếu tướng Phạm Ngọc Lan tâm sự: “Phi công của ta ngày ấy quả là những con người thông minh, dũng cảm tuyệt vời. Chỉ có ít ngày huấn luyện mà đã xuất trận với hiệu suất chiến đấu rất cao”.

Đổ máu bảo vệ xe tăng chiến lợi phẩm

Từ năm 1966, thực hiện chủ trương “lấy xe địch đánh địch”, Bộ chỉ huy giao cho Đoàn cơ giới Miền tổ chức một số trận đánh chiếm xe địch làm phương tiện huấn luyện bộ đội, xây dựng đơn vị thiết giáp ở B2.

Ngày 23/3/1966, đại đội C40, gồm 38 đồng chí bất ngờ tấn công vào căn cứ của Trung đoàn Thiết giáp số 1 ngụy ở Gò Đậu, đoạt được 4 xe tăng M41 và 6 xe thiết giáp M113. Thế nhưng, khi đưa xe ra khỏi căn cứ, địch cho gọi máy bay đánh chặn, bắn cháy gần hết số xe ta thu được. Trong đó, chỉ duy nhất chiếc M41. A1 (số 247) thoát được.

Thế nhưng, suốt giai đoạn 1966-1969, địch nhiều lần đổ quân phá căn cứ của ta và truy tìm xe. Nhờ sự chiến đấu và hy sinh của các chiến sĩ của ta cùng với phương pháp ngụy trang và đảm bảo bí mất tốt, chiếc xe đã an toàn, ngay cả trong trường hợp nơi chôn dấu cách địa điểm đổ quân vài trăm mét.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/tuanlinh/20100430/khcntangthuhoi.jpg
Chiếc xe tăng chiến lợi phẩm trong trận Gò Đậu. Ảnh tư liệu

Chiếc xe chiến lợi phẩm được sử dụng để huấn luyện cho bộ đội B2. Nhiều cán bộ, chiến sĩ trưởng thành từ đây đã đạt nhiều thành tích xuất sắc trong huấn luyện, chiến đấu.

Tiếp nối chiến công đầu tiên của bộ đội tăng thiết giáp miền đông nam bộ, trong những chiến dịch sau này, khi đã thu hồi được tăng, thiết giáp của Mỹ, ngụy để lại, bộ đội ta đã nhanh chóng làm chủ và khai thác để tấn công địch. Đặc biệt, Đội 33 (một đơn vị chuyên thu gom tăng, thiết giáp khí tài của địch, thành lập dưới quyền Chỉ huy sở Tiền phương cơ giới miền) còn có cả một "bộ sưu tập" nhiều chủng loại xe: M24; M41; M48; M113; M113 phun lửa; xe cẩu... Những chiến xa này đã tham gia nhiều trận đánh lớn, trong đó, có trận đánh tiến về giải phóng Sài Gòn từ hướng Tây Nam.

Tìm kính ngắm dưới mưa đạn

Không được cơ động như các khí tài cơ giới, việc “lấy vũ khí địch đánh địch” của các đơn vị pháo binh hết sức có ý nghĩa. Vì, khai thác được khí tài của địch sẽ giảm bớt gánh nặng cho các đơn vị hậu cần, nhiều khi phải sử dụng sức người để kéo, gùi pháo.

Do đó, tinh thần “lấy vũ khí địch đánh địch” luôn được các chiến sĩ của binh chủng “chân đồng, da sắt” quán triệt. Trong đó, có câu chuyện lần lấy pháo, đạn của địch đánh địch của sư đoàn Sao Vàng, mà mở màn là chiến dịch giải phóng Hoài Ân.

Ngày 18/4/1972, sau khi chiếm được trận địa pháo của địch, một phân đội của tiểu đoàn 17 nhanh chóng tiến hành thu hồi pháo. Thế nhưng, trước khi rút chạy, địch đã đập phá, tháo gỡ các kính ngắm. Không có kính ngắm, người điều khiển pháo như không có mắt. Đồng thời, giặc không để yên cho ta chiếm giữ trận địa. Nhằm vị trí ta vừa chiếm giữ, pháo địch dồn dập trút đạn xuống.

Thế là, vật lộn giữa cơn mưa đạn, chờ những lúc pháo ngớt nổ, phân đội của tiểu đoàn 17 vẫn kiên trì lần mò trong bóng tối tìm kính ngắm, xung quanh trận địa, từ gần ra xa, xuống cả ruộng ngô. May mắn, cuối cùng cũng thu được kính ngắm và một số phụ tùng, đủ ráp đồng bộ một khẩu pháo 105 ly và kéo về căn cứ an toàn. Toàn phân đội, ai cũng mừng rỡ vì từ nay có pháo lớn.

Từ chiến công đầu, chỉ thu được khẩu pháo duy nhất, những chiến dịch sau, phân đội của tiểu đoàn 17, sư đoàn Sao Vàng đã 7 lần thu được của địch gồm nhiều loại, thậm chí cả “cẩm nang các bài bắn pháo” do địch để lại. Đến kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh, lượng khí tài thu được đủ để đơn vị trang bị và phát triển thành trung đoàn, với 24 khẩu pháo mặt đất (chiếm 80% số pháo của đơn vị).

Tuấn Linh - Báo Đất Việt
Nguồn: http://www.baodatviet.vn/Home/KHCN/Chuyen-chuyen-he-vu-khi-de-danh-dich/20104/90812.datviet

Ma Doãn Điệp
15-10-2010, 11:08 PM
Vụ KQNDVN dùng A-37 của Mỹ-Ngụy ném bom sân bay Tân Sơn nhất ngày 28/4/1975 đây:

Cho đến nay, mọi người vẫn cảm thấy bất ngờ và thán phục trước trận đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975 của Phi đội Quyết Thắng. Những cái tên Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Mai Xuân Vượng, Nguyễn Thành Trung... được nhiều người biết đến.

Ít ai biết, để có được trận đánh táo bạo, bất ngờ và ngoạn mục đó là cả một kế hoạch đã được chuẩn bị kỹ càng cùng với sự âm thầm, miệt mài làm việc của những kỹ sư, thợ máy trong gần một tháng trời với các công việc thu gom, phục hồi những chiếc máy bay A37 của địch ở các sân bay khác nhau để chuẩn bị cho phi công ta vào trận.

Vào những ngày cuối tháng 3/1975, khi toàn quân và toàn dân ta đẩy mạnh cuộc Tổng tiến công và nổi dậy quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thì lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam nhận được lệnh “Chuẩn bị tham gia chiến dịch”.


Bộ tư lệnh (BTL) Quân chủng đã họp bàn và đưa ra rất nhiều phương án triển khai thực hiện mệnh lệnh. Ban đầu MiG-17 được chọn làm “ứng cử viên” tham gia chiến đấu, bởi nếu dùng loại máy bay này, chúng ta có nhiều thuận lợi như lực lượng phi công giỏi và nhiều kinh nghiệm trận mạc. Nhưng vấn đề đặt ra chính là yếu tố thời gian. Nếu dùng MiG-17 di chuyển từ sân bay Kiến An vào Phan Rang phải qua 5 chặng là các sân bay Vinh - Đồng Hới - Đà Nẵng - Phù Cát - Phan Rang; trong khi đó thời tiết miền Bắc rất nhiều mây mù, không phù hợp với yêu cầu “thần tốc” của chiến dịch. Bên cạnh đó, hệ thống xe tải đi bằng đường bộ mang theo vũ khí và xăng dầu phục vụ cho từng điểm dừng chân tiếp sức cũng gặp khó khăn. Thế là, các phương án dùng máy bay của ta tham gia chiến dịch xem ra đều “bất khả thi”. Suy đi tính lại, đồng chí Đại tá Lê Văn Tri, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân (PK-KQ) nêu ra một câu hỏi không ai ngờ tới: “Liệu có thể lấy máy bay địch đánh địch?”. Ý kiến của đồng chí Tư lệnh Quân chủng đã mở ra một hướng giải quyết khá táo bạo nhưng không phải không có căn cứ.

Đà Nẵng: Tổ đặc nhiệm khẩn trương vào tiếp quản

Ngày 2/4/1975, Đại úy Hồ Thanh Minh, Phó phòng Máy bay Quân chủng PK-KQ, đã cùng với Thượng úy Nguyễn Văn Soạn, kỹ sư điện đồng hồ máy bay; Trung úy Nguyễn Đình Thủy, kỹ sư vũ khí hàng không; Thiếu úy Nguyễn Anh Tuấn, kỹ sư máy được lệnh vào tiếp quản sân bay Đà Nẵng mới giải phóng.

Tổ khẩn trương lên đường, mang theo phương án đã được BTL Quân chủng phê duyệt. Vừa mới bước chân vào sân bay Đà Nẵng, ngay trên con đường đất gần sân đỗ, mọi người đã thấy một chiếc máy bay A37 mang số hiệu 777 nằm quay đầu vào bờ đất, bên cửa lên xuống là một xác phi công quân đội Sài Gòn. Tổ đã đánh dấu ngay chiếc máy bay này. Vào sâu trong sân bay, một chiếc máy bay khác mang số hiệu 980 cũng nằm “chết” ở cạnh xưởng sửa chữa. Máy bay này trên thân có một vài vết đạn nhưng qua kiểm tra sơ bộ không thấy hỏng hóc gì nghiêm trọng. Vậy là bắt đầu từ hai chiếc A37 này, tổ bắt tay ngay vào công việc thu gom, phục hồi các máy bay.

http://hoiquanphidung.com/Pictures/A-37B-2.jpg

http://www.historicalaircraftsquadron.com/airshow_2002/A-37_Dragonfly_1.jpg

http://vnmilitaria.com/museum2/a37.jpg
Phi tuần A-37 của Không quân Mỹ - Ngụy

Trong 15 ngày đầu tháng 4, tổ đã làm công tác tiếp quản, kiểm kê và sửa chữa lại số máy bay còn có thể dùng được của địch ở sân bay Đà Nẵng để báo cáo với cấp trên. Qua kiểm tra, 15 máy bay địch bỏ lại trong sân bay chỉ có 5 chiếc là còn có thể nổ máy, trong đó cũng chỉ còn hai máy bay A37 đã nói trên là có thể bảo đảm được hệ số an toàn. Hai chiếc máy bay này đã được lực lượng không quân địch chuẩn bị rất kỹ dùng cho việc tháo chạy của đám tàn quân. Sau hơn 10 ngày vượt mọi khó khăn, tranh thủ ngày đêm khôi phục, cuối cùng tổ đặc chủng đã có thể khẳng định hai máy bay vẫn sử dụng tốt. Trên cơ sở đó, ngày 16/4, Bộ Quốc phòng đã đồng ý phương án sử dụng 2 máy bay thu được ở sân bay Đà Nẵng để đánh địch. Đây là một ý tưởng hết sức táo bạo và bất ngờ.

Ngày 20/4, Tổ đặc nhiệm được tăng cường 15 thượng sĩ nhất về máy bay động cơ của Sư đoàn Không quân Sài Gòn tại Đà Nẵng, để thực hiện nhiệm vụ phục hồi nhanh chóng các máy bay A37 còn sử dụng được của chúng, chuẩn bị cho các phi công ta sử dụng chiến đấu. Theo phương án này, các phi công của Phi đội 4 (Phi đội Quyết Thắng) cũng lập tức được điều từ Thọ Xuân (Thanh Hóa) vào Đà Nẵng để cấp tốc học lái máy bay địch. Ngày 21/4, chiếc A37 mang số hiệu 777 đã được cán bộ huấn luyện chiến đấu của Quân chủng PK-KQ cùng phi công của quân đội Sài Gòn Trần Văn On nổ máy, lăn bánh trên sân băng. Máy bay hoạt động tốt. Với thành công mang tính chất nền tảng đó, chiều ngày 22/4, các phi công của Phi đội 4 - phi đội cơ động của Trung đoàn 923 - đã từ Thanh Hóa vào Đà Nẵng, bắt tay thực hiện huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật chuyển loại. Thành phần gồm các phi công: Nguyễn Văn Lục, Phi đội trưởng; Từ Đễ, Phi đội phó; Hán Văn Quảng; Mai Văn Vượng, Âu Văn Hùng, Tạ Đông Chung, Nguyễn Văn Hùng... Sau khi bàn giao 2 máy bay A37 đã phục hồi cho các phi công luyện tập, Tổ đặc nhiệm lại lên đường vào sân bay Phù Cát để khai thác tiếp những máy bay A37 ở đây phục vụ chiến dịch.

Còn tiếp

Ma Doãn Điệp
15-10-2010, 11:13 PM
Tiếp theo

Phù Cát: Lực lượng đầy đủ, sẵn sàng cơ động

Tình hình tại sân bay Phù Cát khó khăn hơn Đà Nẵng rất nhiều. Sân bay rộng lớn nằm trên một đồi sim. Ngay khi có mặt tại đây, Tổ đặc nhiệm đã được nhân dân cảnh báo: khu vực sân bay vẫn còn tàn quân địch ẩn nấp dưới hầm ngầm, rất nhiều người đã bị chúng giết hại khi ra tắm tại hồ nước trong sân bay. Có được những thông tin đó, Tổ đặc nhiệm đã lên kế hoạch vừa công tác vừa sẵn sàng chiến đấu.

Sân bay Phù Cát có cả thảy 40 nhà vòm nhưng chỉ còn lại 14 máy bay, trong đó có 9 chiếc A37 là nổ máy được. Thực hiện khôi phục với phương pháp chọn lựa, Tổ đặc nhiệm đã lắp ráp được 5 chiếc tốt nhất phục vụ cho chiến dịch. Trong vòng 3 ngày (từ 22 đến 26/4), các đồng chí Tổ đặc nhiệm đã hoàn thành công việc, song cũng chỉ nổ máy máy bay chứ chưa có phi công để bay thử. Khi đó, đồng chí Tư lệnh Quân chủng vẫn ở trong sân bay Phan Rang. Phi đội 4 ở sân bay Đà Nẵng chờ phi công Nguyễn Thành Trung (người của ta hoạt động trong hàng ngũ địch, ngày 8/4/1975 đã lái máy bay địch, ném bom Dinh Độc Lập, rồi bay ra vùng giải phóng Phước Long) ở Phước Long ra; Tổ đặc nhiệm ở giữa không thể liên lạc được với trên. Ba ngày liền hết gạo, anh em phải ăn toàn lương khô và liên tục thay nhau canh gác suốt ngày đêm để bảo vệ máy bay.

Trong khi các thợ máy ở Phù Cát đang nóng lòng chờ đợi thì tại sân bay Đà Nẵng, các phi công của Phi đội Quyết Thắng nhanh chóng học tập kỹ thuật, chiến thuật chuyển loại máy bay. Từ trước đến nay ta chỉ sử dụng máy bay của Liên Xô cũ, tất cả mọi ký hiệu, bảng chỉ dẫn đều bằng tiếng Nga, nay chuyển sang máy bay A37 của Mỹ tất cả đều được thể hiện bằng tiếng Anh, ngay cả một số đơn vị đo lường cách tính cũng khác nên rất khó nắm bắt và nhớ chính xác. Các phi công đã có sáng kiến ghi lại chức năng "núm nút" theo tiếng Việt rồi dán đè lên trên phần tiếng Anh cho dễ nhận biết. Ban ngày, mọi người thay nhau bay tập trên hai chiếc A37, buổi tối vẫn tranh thủ học tính năng và tên “núm nút” máy bay, hầu như không ai nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi. Sau 3 ngày luyện tập với cường độ cao, các phi công của ta đã cơ bản bay được loại máy bay mới, lập nên một kỳ tích về chuyển loại bay.

Trưa ngày 26/4, các phi công của Phi đội Quyết Thắng sau khi hoàn thành “khóa” huấn luyện chuyển loại cấp tốc đã cùng với các đồng chí lãnh đạo của Quân chủng PK-KQ, cơ động vào sân bay Phù Cát. Sáng ngày 27/4, tại sân bay, không khí như mở hội. Ngoài đường băng, 5 chiếc máy bay A37 xếp hàng ngang đồng loạt khởi động, tiếng máy rền vang cả một vùng. Giờ đây số máy bay đã nhiều lên, việc luyện tập cũng thuận lợi hơn. Các đồng chí phi công lần lượt lên 5 chiếc A37 cất cánh thử. Tất cả sẵn sàng cho nhiệm vụ.

Phan Rang: Những công việc cuối cùng

Sau khi phi công bay luyện tập thử về, Tổ đặc nhiệm lại tiếp nhận máy bay, làm các khâu kiểm tra kỹ thuật, chuẩn bị cho máy bay ở tình trạng tốt nhất. Sáng ngày 28/4, 5 chiếc A37 đã sẵn sàng để phi đội làm nhiệm vụ chuyển từ Phù Cát vào sân bay Phan Rang. Khi phi đội vừa cất cánh cũng là lúc Tổ đặc nhiệm lại "khăn gói quả mướp" tất tả lên máy bay An-26 theo vào Phan Rang để tiếp tục thực thi nhiệm vụ.

Ngay khi máy bay hạ cánh an toàn xuống sân bay Phan Rang, các đồng chí thợ máy đã làm công tác kiểm tra kỹ thuật, nạp xăng dầu và lắp ráp bom đạn. 5 chiếc A37 mỗi chiếc được lắp 4 tấn bom dưới giá, nghĩa là trọng lượng đã ở mức tối đa. Số dầu cũng được nạp đủ cho đi và về từ Phan Rang đến sân bay Tân Sơn Nhất, là mục tiêu ném bom. Các đồng chí phi công tập trung họp bàn kế hoạch nghiên cứu phương án của trận đánh. Một số tình huống được dự kiến xử lý trong đó các tình huống liên quan trực tiếp đến máy bay như: trên đường đến mục tiêu, nếu máy bay nào hỏng nhẹ thì vẫn bám theo phi đội vào cắt bom; trường hợp hỏng nặng, tự quay về hoặc hạ cánh bắt buộc; nếu lạc đội hình, quay ra hướng Đông bay dọc bờ biển về căn cứ. Thời gian cất cánh được xác định vào khoảng 16 giờ hoặc 17 giờ, bởi đây là thời điểm địch đổi ca trực nên sẽ lơ là hơn, không thể kịp thời đối phó.

16 giờ 30 phút ngày 28/4, Phi đội Quyết thắng cất cánh làm nhiệm vụ. Nguyễn Thành Trung bay số 1, Từ Đễ bay số 2, Nguyễn Văn Lục bay số 3, Mai Xuân Vượng và Trần Văn On bay số 4, Hán Văn Quảng bay số 5. Từng chiếc A37 mang bom rời đường băng, mọi người nín thở theo dõi. Ai cũng hồi hộp chờ mong tin tức bởi biết bao công sức miệt mài của anh em cả tháng trời trông chờ cả vào lần xuất kích này.

Hai tiếng sau, Phi đội Quyết Thắng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trở về an toàn. Tư lệnh Quân chủng và các thành phần chỉ huy, anh em thợ máy ùa ra đường băng trong niềm vui khôn tả. Mọi người xúm lại ôm hôn, chúc mừng các đồng chí phi công. Sau đó, Tổ đặc nhiệm lại tổ chức kéo máy bay cất giấu, ngụy trang đề phòng địch trả thù. Đúng như dự đoán, bị đòn đau bất ngờ, ngay rạng sáng hôm sau (29/4) địch đã cho máy bay ném bom sân bay Phan Rang nhằm trả đũa không quân ta đã tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng do tinh thần hoảng loạn chúng ném bom bừa bãi xuống sân bay rồi chuồn thẳng. Ta cũng đã dự kiến trước tình huống này, bố trí người và phương tiện hợp lý nên không bị thiệt hại.

http://i260.photobucket.com/albums/ii34/rongcoithit_bucket/28041975.jpg
Phi đội Quyết Thắng trở về sau trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất

Chiến thắng vang dội của lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam trong trận ném bom sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975 đã góp phần cùng với Bộ đội Pháo binh làm tê liệt cầu hàng không di tản bằng máy bay của địch mang tên “Người liều mạng”, tiêu diệt 24 máy bay và hàng trăm sĩ quan, binh lính quân đội Sài Gòn, gây tiếng vang vô cùng rộng lớn, đẩy nhanh quá trình tan rã của chính quyền Sài Gòn. Chiến thắng đó có công sức không nhỏ của các kỹ sư, thợ máy - những người đã không quản ngại hiểm nguy, âm thầm làm việc gần một tháng trời dưới cái nắng nóng của miền Trung và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Hoàng Văn Mạnh
16-10-2010, 12:48 AM
có vẻ bạn điệp rất am hiể về quân sự nếu sau này mình nghĩ bạn sẽ trở thành một nhà quân sự tài tình
chúc bạn thành công nha

vang_quangdung
19-10-2010, 11:07 PM
trươc ngay 30/4/75 nước láng riềng gần ta nhộm nhoạm chiếm một hòn đảo thuộc quân đảo xxx trên biển đông,thuộc quyền kiểm soát của nguy quyên Sai Gòn.rạng sáng ngay...quân giải phóng miền nam dùng một phân đội,mặc trang phục cua quân đội việt nam cộng Hòa trang bị tiểu liên AR 15,súng phóng lựu M79 ,súng chống tăng M72, tầu đổ bộ gio mỹ san xuất.đơn vị này bất ngờ tiến công chiếm đảo,sau 20 phút đơn vị này làm chủ hoan toàn trận địa...Dựng cờ việt nam cộng hòa khẳng định chủ quyền.

mấy hôm sau một đơn vị hải quân việt nam tấn công chiếm đảo. hai bên bắn nhau quyết liệt bằng đạn giấy.sau 30 phút cờ quân giải phóng miền nam được kéo lên...(.truyện do các cựu chiên binh kể.)..có lẽ vì bí mật quốc gia chưa được giải mã nên chưa thấy sử liệu nào ghi ...mình vẫn hy vọng đây là truyện có thật chỉ tiếc sao không chiếm luôn đảo Hoang SA cho bi giờ đỡ cãi nhau.