PDA

View Full Version : 1001 Bí ẩn cần khám phá!


Nguyễn Đức Lâm
04-11-2006, 03:20 PM
Nếu thu nhân loại toàn thế giới xuống thành một làng nhỏ có 100 người, ta sẽ có một cái làng như sau :

- 57 người châu Á
- 21 người châu Âu
- 14 người châu Mỹ (Nam Mỹ và Bắc Mỹ)
- 8 người châu Phi

- 52 phụ nữ
- 48 đàn ông

- 70 người da màu
- 30 người da trắng

- người sẽ sở hữu 59% tổng tài sản của làng, và cả 6 người đều là người Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
- 80 người sẽ khong có nhà ở tử tế
- 70 người mù chữ
- 50 người sẽ khong được ăn no
- 1 người sẽ chết
- 2 người sẽ được sinh ra
- 1 người có máy tính
- 1 (chỉ có 1 người) có trình độ Ðại học trở lên

Nếu nhìn Thế giới dưới góc độ như thế này ta sẽ thấy rằng chúng ta, những con người, cần sự thông cảm, đoàn kết, sự nhân ái và trí thức đến mức nào !

- Nếu trong tủ lạnh nhà bạn có thức ăn, bạn được ăn mặc tử tế, bạn có 1 mái nhà và 1 cái giường êm ấm, bạn giàu có hơn 75% nhân loại. - Nếu bạn có tài khoản trong ngân hàng, tiền trong ví và 1 ít xu lẻ trong túi quần, bạn đã thuộc 8% no đủ của toàn Thế giới.
- Nếu sáng nay bạn thức dậy khoẻ mạnh, nghĩa là bạn hạnh phúc hơn 1 triệu người rồi đấy, những người không sống được đến tuần sau.
- Nếu bạn chưa bao giờ trải qua chiến tranh hay sự cô độc trong những phòng giam của nhà tù , nếu bạn chưa phải hấp hối vì đói và khát, bạn hạnh phúc hơn, may mắn hơn 500 triệu người trên Thế giới này.

* Nếu bạn đọc những dòng chữ này, bạn sẽ hạnh phúc gấp 2 lần vì :
- Có ai đó nghĩ đến bạn
- Bạn không nằm trong số 3,8 tỷ người mù chữ
- Bạn biết sử dụng máy tính.

Và hãy nhớ rằng, bạn là một phần của Thế giới.

Thùy Dương
05-01-2007, 08:26 PM
hihi. Có thời gian tớ đọc đc một bài rất hay. Hic, nhưng mà đọc xong thì rất chi là sợ. Nó viết về vụ yểm bùa trên sông tô lịch. Vụ này diễn ra lâu rồi...
Ngày 21/9/2002, Báo Kinh Tế và Xã Hội đã đăng một bài về sự phát hiện trên sông Tô lịch, phía cửa Tây của La Thành, một hiện tượng chấn yểm của người xưa.
Hiện tượng này đã gây xôn xao dư luận của Hà Nội và cả nước về những kỳ bí đang xẩy ra vào đầu thế kỷ 21 - Khi mà KHKT đang phát triển như vũ bão.
Tóm lược sự việc như sau :Vào ngày 27/9/2001, đội thi công số 12 -Thuộc Công ty xây dựng VIC ,trong khi nạo vét sông Tô Lịch,thuộc địa phận làng An Phú - Phường Nghĩa Đô - Quận Cầu giấy - HÀ NỘI đã phát hiện được di vật cổ rất lạ và huyền bí. Đó là 7 cây gỗ được chôn đứng dưới lòng sông, tạo thành một đa giác đều,tại đó có các bộ hài cốt bị đóng đinh bả vai, táng giữa các cọc gỗ đó. Ngoài ra còn phát hiện được tấm gỗ Vàng tâm có hình Bát quái, một số đồ Gốm, xương Voi, Ngựa, dao, tiền đồng.

Sau khi đã rút những cọc gỗ đó lên, lấy các bộ hài cốt đem lên Bát Bạt -Hà tây ( là nơi nghĩa trang chôn cất chung của TP.Hà nội ), thấy có rất nhiều hiện tượng kỳ lạ xẩy ra.Nào là các việc chuẩn bị tiến hành thi công bị rối tung lên, máy xúc KOMATSU tự nhiên lao xuống sông;. Nào là một số người đang làm việc tự nhiên ngã lăn ra đất, chân tay co rúm, cứng đờ, lưỡi thè ra ngoài và trở nên hoàn toàn mất tư thức trong nhiều giờ;. Địa tầng của cả khu vực thi công tự nhiên biến đổi, không giống như khảo sát ban đầu; Thử đưa la bàn vào khu vực đó thấy kim la bàn quay tít.
Một năm sau sự việc trên,có hàng loạt sự kiên ngẫu nhiên xẩy ra ,gây kinh hoàng cho toàn đội xây dựng số 12,là đội đă trực tiếp thi công khu vực trên. Bản thân, gia đình, anh em của những người công nhân trực tiếp ngụp lặn vớt hài cốt, nhổ cọc đóng dưới lòng sông liên tục bị các tai nạn thảm khốc như chết, bệnh tật, tai nạn. Sự việc lên đến đỉnh cao khi có tới 43 người thợ bỏ không dám tiếp tục làm việc tại công trường nữa. Trong số đó nhiều người không nói rõ lý do, cũng không đòi hỏi vật chất mà đáng ra họ được hưởng.
Ngày 9/10/2001 những người thợ đã mời một thày theo đạo Tứ phủ đến giải thich, theo nhận định của Thày thì đây là một đạo Bùa Bát quái trận đồ được chôn yểm lâu đời để chấn yểm Long mạch của khu vực này. Sau đó các công nhân lại tiếp tục mời Thượng tọa Thích Viên Thành tới. Thượng tọa Thích Viên Thành đã cho 5 đệ tử lập đàn tràng, làm lễ Hàn lại Long mạch.Theo một số người nói lại ( tôi không có điều kiện kiểm tra ): Chỉ hơn 1 tháng sau, Thượng tọa Thích Viên Thành đã bị bệnh chết.

Các nhà khoa học đã có những đánh giá sơ bộ, song cho đến nay vẫn chưa có kết luận nào khả dĩ có thể lý giải và khắc phục các sự việc trên.

Mai Tiến
05-01-2007, 09:00 PM
Hix, lần đầu tiên được nghe kể chuyện này. Thấy ghê ghê thế nào ấy. Mình vốn không tin lắm về mấy chuyện yểm bùa. Nhưng đọc xong thấy cũng lạnh người thật...

Bạn có thông tin gì về đoạn sông ấy vào thời điểm hiện tại không?

Thùy Dương
05-01-2007, 11:30 PM
hihi. Công nhận là sợ thiêt. :D, hôm đc kể thế là phải về tìm ngay để đọc. Lại còn mấy vụ về phong thủy của trường Kiến trúc với Thủy lợi í. Kực kinh luôn. Có time thì mình sẽ post lên cho mọi người đọc. Dựng tóc gáy luôn .:D

bibi
05-01-2007, 11:38 PM
:oa: Đọc xong nhìn đóng cửa ngồi trong nhà mà thấy ghê ghê.Tối nay là 1 tối ko yên ả rùi huhuhuhu.Sau vụ yểm bùa sông tô lịch se la vụ Bibi yểm bùa cogai_dentuhomqua:haha:

Thùy Dương
05-01-2007, 11:48 PM
=)) cũng bình thường thôi. Yểm thế nào giờ nhỉ. Yểm bùa kiểu hình nhân thế mạng àh. :-ss cũng sợ đấy chứ. Hì. Đùa thế thôi. cũng chẳng sợ mấy.

Nguyễn Đức Lâm
06-01-2007, 12:01 AM
Chả sợ! Em thử yểm bùa anh xem nào, may ra anh còn sợ:rolleyes: Anh chỉ sợ con gái yểm bùa thôi, chứ mấy cái này chẳng sợ!

chicken
06-01-2007, 12:08 PM
Bác vayhaysao nói chí phải, yểm gì không sợ, chỉ sợ con gái yểm bùa thì coi như toi!

bibi
06-01-2007, 02:03 PM
kakakakak.2 bác cho em địa chỉ em sẽ tới tận nhà yểm bùa.Sẽ hiệu quả lắm đây.Hum nay Bibi sẽ tái xuất giang hồ.kakakakkakak|-)

Nguyễn Đức Lâm
06-01-2007, 06:20 PM
kakakakak.2 bác cho em địa chỉ em sẽ tới tận nhà yểm bùa.Sẽ hiệu quả lắm đây.Hum nay Bibi sẽ tái xuất giang hồ.kakakakkakak|-)

Địa chỉ ah? Ok thôi, ai đến yểm bùa cũng được:rolleyes:
Nguyễn Đức Lâm, Số nhà 68- Ngõ 61- Định Công- Hoàng Mai- Hà Nội
ĐT: 0912835288
(Nếu không tìm thấy nhà thì gọi điện cho anh ra đón):-"
Cũng sợ lắm nhưng phải thử cho biết:D Xem khả năng yểm bùa của em đến mức độ nào?

Thùy Dương
07-01-2007, 01:56 AM
Haha. Đến lúc bị yểm rồi đừng xin em ý tha cho nhá. Há há. Có khi sợ chết khiếp ý chứ. :-

Nguyễn Đức Lâm
07-01-2007, 01:18 PM
Haha. Đến lúc bị yểm rồi đừng xin em ý tha cho nhá. Há há. Có khi sợ chết khiếp ý chứ. :-

Sợ gì chứ! Chấp cả em Dương nữa đấy!
Có giỏi thì nhào vô!<;>

Thùy Dương
09-01-2007, 12:08 AM
:-" em Dương yểm bùa thì ko có hiệu nghiệm đâu. haha. Chỉ lo anh bị cái em Bibi yểm bùa ko chạy đc ý chứ. hehe. Lúc đấy thì lại khổ, có khi lại trách em chả nhắc trước.:P

Vũ Thủy Hoàng
09-01-2007, 12:44 AM
Chả hiểu bác Vayhaysao có tà thuật gì trợ giúp mà tự tin thế. Nhưng mà còn cái chuyện bị người dân tộc "Chài" là có thật không mọi người nhỉ mình nghe cái vụ này nhiều lắm rồi nhưng không hiểu cho lắm, ai có hiểu biết về lĩnh vực này có thể cho ChocchoC mở rộng tầm mắt được không.

Vũ Khắc Khiêm
09-01-2007, 03:40 AM
vayhaysao cẩn thận kẻo đi toi 24 năm đời trai đấy!
Con gái yểm bùa là không chạy được đâu!

Nguyễn Đức Lâm
09-01-2007, 10:54 PM
Hic!
Thế ah? Vậy là toi rồi...

Vũ Khắc Khiêm
09-01-2007, 11:31 PM
vayhaysao nên tránh đi vài ngày đi, kẻo người yểm bùa nhiều như ong vỡ tổ nó ùa vào thì chạy không kịp đâu! Ở đây mà tớ còn sợ nữa là...

Thùy Dương
10-01-2007, 12:21 AM
haha. Anh thấy chưa. Em là tốt đấy nhé. Báo trước cho mà hổng tin, giờ có thêm mọi người khuyên can thì mới sáng ra. ;)) chạy đi, chắc vẫn kịp đấy.

chicken
10-01-2007, 06:43 PM
kakakakak.2 bác cho em địa chỉ em sẽ tới tận nhà yểm bùa.Sẽ hiệu quả lắm đây.Hum nay Bibi sẽ tái xuất giang hồ.kakakakkakak|-)

Ok lun. Địa chỉ nè :
Nguyễn Ngọc Hưng , số 8 ngách 33
ngõ 64 phố Vũ Trọng Phụng , Thanh Xuân.
(Nếu chưa bít rõ Đ/c thì có thể hỏi thêm bác Tunguyenba ấy:D )
See u again!

4288506411072
10-01-2007, 07:11 PM
chuyen hay ghe!
cho do la o dau vay?
khi nao co dipghe qua choi!

bibi
10-01-2007, 07:30 PM
chậc chậc..chưa thấy quan tài chưa đổ lệ.Anh Chocchoc ui cái chuyện bị chài đó là có thật đó.Ko xa xôi lắm đâu ở ngay bên Gia Lâm có 1 ông bị dân tộc chài bán cả nhà cửa vợ con đi theo 1 ng dân tộc đấy.Anh cẩn thận nha

chicken
14-01-2007, 12:24 AM
chậc chậc..chưa thấy quan tài chưa đổ lệ.Anh Chocchoc ui cái chuyện bị chài đó là có thật đó.Ko xa xôi lắm đâu ở ngay bên Gia Lâm có 1 ông bị dân tộc chài bán cả nhà cửa vợ con đi theo 1 ng dân tộc đấy.Anh cẩn thận nha

Hơ, may quá! Mình chưa có vợ con, nhà cửa... Cho nên...OK đi. He he:D

Thu Trang
15-01-2007, 05:02 PM
Chả hiểu bác Vayhaysao có tà thuật gì trợ giúp mà tự tin thế. Nhưng mà còn cái chuyện bị người dân tộc "Chài" là có thật không mọi người nhỉ mình nghe cái vụ này nhiều lắm rồi nhưng không hiểu cho lắm, ai có hiểu biết về lĩnh vực này có thể cho ChocchoC mở rộng tầm mắt được không.

|-) em biết đấy,ngày xưa bố em lên dân tộc có kể về vụ chài người này,cả con trai hay con gái đều bị cả,nó là một cái buad của các thầy phù thủy ngày xưa của dân tộc đấy.Khi bị dính vào rồi ngơ ngẩn chỉ yêu mỗi người đó híc! có mấy công thức cơ,nhưng loại này người ta bảo thất đức nên mai một dần! heheh! hôm nào em về hỏi lại cho,có mấy cách cơ :D .Hôm nào biết roìa chài luôn 1 anh Tuyên Quang về làm rể Hà Tây nhỉ:haha:

chicken
15-01-2007, 05:08 PM
|-) em biết đấy,ngày xưa bố em lên dân tộc có kể về vụ chài người này,cả con trai hay con gái đều bị cả,nó là một cái buad của các thầy phù thủy ngày xưa của dân tộc đấy.Khi bị dính vào rồi ngơ ngẩn chỉ yêu mỗi người đó híc! có mấy công thức cơ,nhưng loại này người ta bảo thất đức nên mai một dần! heheh! hôm nào em về hỏi lại cho,có mấy cách cơ :D .Hôm nào biết roìa chài luôn 1 anh Tuyên Quang về làm rể Hà Tây nhỉ:haha:

Hờ hờ, kiểu này thì bác ChocchoC khổ rùi, ThuTrang đã nói như vậy thì chắc bác nằm trong tầm ngắm roài. Lần này có chạy lên quận cũng không thoát được đâu. Em xin chia buồn với bác nhé!:oa: :oa: :D

kj9700
16-01-2007, 12:41 AM
Nếu thu nhân loại toàn thế giới xuống thành một làng nhỏ có 100 người, ta sẽ có một cái làng như sau :

- 57 người châu Á
- 21 người châu Âu
- 14 người châu Mỹ (Nam Mỹ và Bắc Mỹ)
- 8 người châu Phi

- 52 phụ nữ
- 48 đàn ông

- 70 người da màu
- 30 người da trắng

- người sẽ sở hữu 59% tổng tài sản của làng, và cả 6 người đều là người Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
- 80 người sẽ khong có nhà ở tử tế
- 70 người mù chữ
- 50 người sẽ khong được ăn no
- 1 người sẽ chết
- 2 người sẽ được sinh ra
- 1 người có máy tính
- 1 (chỉ có 1 người) có trình độ Ðại học trở lên

Nếu nhìn Thế giới dưới góc độ như thế này ta sẽ thấy rằng chúng ta, những con người, cần sự thông cảm, đoàn kết, sự nhân ái và trí thức đến mức nào !

- Nếu trong tủ lạnh nhà bạn có thức ăn, bạn được ăn mặc tử tế, bạn có 1 mái nhà và 1 cái giường êm ấm, bạn giàu có hơn 75% nhân loại. - Nếu bạn có tài khoản trong ngân hàng, tiền trong ví và 1 ít xu lẻ trong túi quần, bạn đã thuộc 8% no đủ của toàn Thế giới.
- Nếu sáng nay bạn thức dậy khoẻ mạnh, nghĩa là bạn hạnh phúc hơn 1 triệu người rồi đấy, những người không sống được đến tuần sau.
- Nếu bạn chưa bao giờ trải qua chiến tranh hay sự cô độc trong những phòng giam của nhà tù , nếu bạn chưa phải hấp hối vì đói và khát, bạn hạnh phúc hơn, may mắn hơn 500 triệu người trên Thế giới này.

* Nếu bạn đọc những dòng chữ này, bạn sẽ hạnh phúc gấp 2 lần vì :
- Có ai đó nghĩ đến bạn
- Bạn không nằm trong số 3,8 tỷ người mù chữ
- Bạn biết sử dụng máy tính.

Và hãy nhớ rằng, bạn là một phần của Thế giới.

ok ! kj chỉ mong muốn được thêm vào một câu, đó là :
"- đừng nghĩ rằng bạn là bạn của một người, hãy nghĩ rằng bạn là bạn của cả thế giới"!!!
hãy chia sẻ với mọi người nếu bạn muốn người khác chia sẻ với bạn !
cảm ơn bài viết của : hayvaysao ! bài này giúp kj hiểu về cuộc sống rất nhiều ! thanks!

Nguyễn Đức Lâm
19-01-2007, 10:38 PM
Cuộc sống muôn hình muôn vẻ và đầy BÍ ẨN. Có những hiện tượng mà khoa học cũng đành bó tay, những BÍ ẨN đó là gì??
Nào, chúng ta bắt đầu cùng nhau khám phá những BÍ ẨN của thế giới!

*************************************************

http://files.chungta.com/Thumbnail.aspx/0/160/0/14EEA4DA350C4EC7B25F5CCEF8FE5FA6/Nguon_buc_xa_vo_tuyen_Taurus_A_phat_ra_boi_tan_du_ cua_vu_sao_no_sao_sieu_moi_trong_chom_sao_Kim_Nguu _xay_ra_nam_1054.jpghttp://files.chungta.com/Thumbnail.aspx/0/160/0/90CCEB778DB94522937F756D806C5D91/Thuyet_giai_thich.jpghttp://files.chungta.com/Thumbnail.aspx/0/160/0/90883682A3CE4D9EBF88EF74DB7F938A/Nguon_goc_va_tien_hoa_vu_tru.jpghttp://files.chungta.com/Thumbnail.aspx/0/160/0/B970BC166D17447BA7A11FA9AC042E7F/Nhung_cau_hoi_khoa_hoc_chua_duoc_giai_dap.jpghttp://files.chungta.com/Thumbnail.aspx/0/160/0/C1A67BA0AA6845CD954C385CB03B6763/Tu_cay_chia_voi_den_computer.jpg


1- Có hay không "kiếp luân hồi"?

Sau khi chết, con người có "trở lại" mặt đất theo một vài dạng khác không? Giới khoa học phương Tây và các chuyên gia tâm lý đã dày công nghiên cứu một cách có hệ thống về "kiếp luân hồi" từ rất lâu nhằm phân tích dưới ánh sáng khoa học về bản chất vấn đề.

Dẫn đầu là một nhóm giáo sư thuộc Trường đại học Yale ở Mỹ từng thu thập khắp thế giới các bằng chứng liên quan đến “kiếp trước” hoặc sự “đầu thai vào kiếp sau”. Rồi họ nghiên cứu chúng một cách tỉ mỉ, logic và nghiêm túc. Nếu phát hiện ra điều gì đó “không bình thường”, họ liền phân tích một cách chuyên sâu hơn nhằm khám phá xem có liên quan gì tới “kiếp luân hồi” – theo quan điểm tín ngưỡng cố hữu không?

“Mảnh đất màu mỡ” cho các cuộc nghiên cứu nói trên đa số là các trẻ em. Roberta Morgan, sinh ngày 28/8/1961 ở tiểu bang Minnesota (Mỹ), bắt đầu kể về “kiếp trước” của mình trong thời còn là một bé gái. Người mẹ thì cho rằng con bé nói rặt những chuyện ngốc nghếch và luôn tìm cách ngắt lời đứa bé. Nhưng Roberta vẫn không ngừng kể về “cha mẹ trước đây” của mình. Em còn kể về chiếc ôtô mà “người cha kiếp trước” từng có và khẳng định rằng em đã cùng sống với “cha mẹ cũ” tại một khu trang trại. Khi bé gái lên 4 tuổi, em được dẫn tới một trại chuyên thuần ngựa nòi. Roberta rất tự nhiên và phấn chấn nói: “Con từng cưỡi ngựa thuần thục nhiều lần rồi”. Thật ra, em đã trèo lên mình ngựa bao giờ đâu. Roberta còn đòi mẹ làm những món thức ăn “khoái khẩu” mà “mẹ trước” đã từng nấu. Em tả lại cách thức nấu các món đó hoàn toàn chính xác. Tới năm 9 tuổi, Roberta Morgan đột nhiên quên hẳn quãng đời “kiếp trước” của mình và không bao giờ nhớ lại được nữa (?!).

http://www.khoahoc.com.vn/photos/Image/2006/07/02/Samlini_Permac.jpg
Bé gái Samlini Permac đang ôn lại quảng đời trước đây của mình.

Còn Samlini Permac sinh đầu năm 1962 ở Colombo (Sri Lanka). Trước khi bé biết nói, cha mẹ nhận thấy rằng em rất sợ... nước. Mỗi khi người mẹ định tắm cho bé, đều gặp phải các phản ứng dữ dội cùng tiếng kêu khóc. Em còn rất sợ ôtô. Khi Samlini nói được, em đã mô tả “quãng đời trước đây” của mình một cách tỉ mỉ. Em kể: “Một hôm cha mẹ “kiếp trước” sai em đi mua bánh mì. Phố xá đang bị lụt, chiếc xe buýt đi sát bên cạnh, hất em xuống đồng nước. Em cố giơ tay quá đầu cầu cứu và hét lên: “Mẹ ơi!”. Sau đó, em bị chìm hẳn vào giấc ngủ vô biên”.

Cha mẹ của Samlini suy nghĩ rất nhiều về chuyện này. Sau đó một thời gian, họ biết được câu chuyện của một bé gái 11 tuổi từng bị chết đuối trong hoàn cảnh tương tự, y hệt câu chuyện mà cô con gái họ đã kể lại. Còn bản thân Samlini Permac không thể biết được sự kiện này vào bất cứ trường hợp nào, bởi đơn giản lúc ấy bé chưa ra đời (?!).

Hai trường hợp tiêu biểu trên được bác sĩ tâm lý học nổi tiếng người Mỹ John Stevenson - người đã nghiên cứu các hiện tượng về “kiếp trước” suốt nửa thế kỷ nay - kể lại. Ông cùng các đồng nghiệp thuộc Trường đại học Tổng hợp Virginia đã thử tìm các bằng chứng, được tồn tại như một “thực trạng X”, mặc dù không tìm được những yếu tố vô lý trong “các X” và họ cũng không thể lý giải chúng dưới ánh sáng khoa học được. Giáo sư Bác sĩ J.Steveson cùng các đồng nghiệp đi tới quyết định chỉ tồn tại một khả năng duy nhất: giống như “ảo giác” - nếu nói về khả năng phân tích khoa học hiện nay. Còn một nhà phân tâm học người Mỹ, Bác sĩ Scot Rogo. cũng đã từng dày công nghiên cứu các trường hợp liên quan tới sự “đầu thai” hoặc “kiếp luân hồi” hơn ba thập niên gần đây, cũng mới chỉ đưa ra các giả thuyết, chứ chưa “dám” nêu lên một kết luận khoa học chắc chắn nào cả.

Trước đây nhiều năm, đa số các nhà khoa học phủ nhận sự “đầu thai”, cho đó là một trò “hoàn toàn lừa bịp”. Nhưng ngày nay đa phần trong số họ đã thừa nhận hiện tượng này như là một phương cách chữa các chứng khủng hoảng tâm lý. Còn Giáo sư Tiến sĩ Abraham Kelsy, Trưởng khoa Y học lâm sàng của Viện Đại học New York, trong các thực nghiệm riêng của mình đã dùng những phương pháp giúp các bệnh nhân nhớ lại “quãng đời kiếp trước” của họ, và bằng cách này giúp họ giải phóng khỏi những vướng mắc hiện tại.

Ông giải thích: “Tôi đã rút ra được kết luận là, rất nhiều biểu hiện hiện tại của người bệnh là hệ lụy của kiếp trước và chính chúng là những trở ngại phong tỏa nghị lực của cuộc sống thực tại. Theo tôi, cơ thể con người luôn mang sẵn những thứ phi vật chất, những thứ vẫn tồn tại sau khi thân xác đã chết. Nôm na như người phương Đông gọi là “hồn”. Chính thứ “hồn” này được tái sinh - đầu thai lại. Niềm tin này của tôi càng được củng cố qua các phân tích tỉ mỉ về “chất lượng riêng” của mỗi cá nhân. Tại sao trong một gia đình, trẻ em thường khác biệt nhau, dù rằng chúng được sinh ra cùng cha cùng mẹ, có cùng một tổng thể gien và lớn lên trong cùng một môi trường? Rất nhiều trẻ em, khi đang chơi, luôn có xung quanh chúng “những người bạn vô hình” nào đó mà chúng luôn cho là đang hiện hữu thật sự. Tới độ 4-5 tuổi, thứ cảm giác ấy đột nhiên biến mất. Điều này theo các nhà khoa học chính là kỷ niệm về những người bạn "kiếp trước" của chúng.

Vẫn chưa có một nhà tâm lý học nào có thể giải thích một cách logic về những cá tính khác nhau, cũng như các “chất lượng cá nhân” khác nhau của đám con trẻ được sinh ra từ một gia đình chung. Trong từng trường hợp, thể hiện những dấu hiệu ảnh hưởng từ “kiếp trước”, được giới tâm lý học nêu ra các giả thuyết về những “biến dạng của tâm lý”: như mê ngủ, nghe hoặc đọc được ở đâu đó... Giới vương quyền Ai Cập thời cổ cũng từng hay nói về các “kiếp luân hồi”, cả Hoàng đế Pháp Napoléon, cũng như nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng khác cũng vậy – những người thường nhớ về "kiếp trước", để chỉ muốn tạo ra cái ấn tượng về “xuất xứ thần thánh” của họ. Đa phần trong chúng ta không hề gợi nhớ lại “kiếp trước” ngay cả qua những cách tân tiến hoàn thiện nhất. Trong trường hợp đó, không tồn tại quan niệm “đầu thai” trong thực tế. Ngoài ra cũng còn nhiều điểm bất đồng ngay cả giữa những người vốn luôn tin vào “kiếp trước”.

Tới giờ, giới khoa học vẫn chưa có sự đồng nhất về thực chất của tiến trình này, đó là cơ sở gây nên sự hoài nghi về khả năng “đầu thai” trong “vòng xoay luân hồi” của mỗi người.

Bạn nghĩ thế nào về vấn đề này, Có ai tin vào kiếp luân hồi không?


http://www.jexpress.com/card/music/pop/luvstory.mid

Dark Lord
20-01-2007, 03:28 AM
Quả là những thông tin rất thú vị :rolleyes: ...
Tuy nhiên vẫn chưa có jì cho thấy sự thật đúng là như thế :D , vẫn chỉ là những phỏng đoán ...

Nguyễn Đức Lâm
21-01-2007, 01:47 AM
Quả là những thông tin rất thú vị :rolleyes: ...
Tuy nhiên vẫn chưa có jì cho thấy sự thật đúng là như thế :D , vẫn chỉ là những phỏng đoán ...

Tât nhiên, những vấn đề này còn đang được tìm hiểu, có những điều chưa thể giải thích được. Khi đó người ta phải đưa ra giả thuyết để phỏng đoán, xây dựng thành một cái gì gì đó, rồi thì chứng minh..vv..

Thương Hoài
28-04-2007, 12:30 PM
Nguyên văn bởi:Vayhaysao :Địa chỉ ah? Ok thôi, ai đến yểm bùa cũng được
Nguyễn Đức Lâm, Số nhà 68- Ngõ 61- Định Công- Hoàng Mai- Hà Nội
ĐT: 0912835288
(Nếu không tìm thấy nhà thì gọi điện cho anh ra đón)
Cũng sợ lắm nhưng phải thử cho biết Xem khả năng yểm bùa của em đến mức độ nào?

Bạn đừng to còi thế ! ko sợ ah`?Mình là người dân tộc nên mình biết đó ko phải là chuyện đùa đâu .Bạn có tin minh biết yểm bùa ko?(Hình như sợ:haha: xanh mặt rùi :D ):ay:

Nguyễn Đức Lâm
28-04-2007, 04:14 PM
Nguyên văn bởi:Vayhaysao :Địa chỉ ah? Ok thôi, ai đến yểm bùa cũng được
Nguyễn Đức Lâm, Số nhà 68- Ngõ 61- Định Công- Hoàng Mai- Hà Nội
ĐT: 0912835288
(Nếu không tìm thấy nhà thì gọi điện cho anh ra đón)
Cũng sợ lắm nhưng phải thử cho biết Xem khả năng yểm bùa của em đến mức độ nào?

Bạn đừng to còi thế ! ko sợ ah`?Mình là người dân tộc nên mình biết đó ko phải là chuyện đùa đâu .Bạn có tin minh biết yểm bùa ko?(Hình như sợ:haha: xanh mặt rùi :D ):ay:

He! Dọa thế ai mà chả sợ!
Linh tinh bị chài thật thì sao, chả dại:D

Thương Hoài
28-04-2007, 07:45 PM
Ôi trời có thế mà đã sợ ,nhát như cáy ý .Ko tin mà vẫn sợ ah?

Thaiquang026
18-05-2007, 05:26 PM
Mấy chuyện này em cũng đọc trên báo rồi .nhưng vẫn chưa đọc được hết mấy chuyện anh post lên vì dài quá .
Nhưng quả thiệt ngoại cảm này đền nay cũng chẳng ai giải thích được do yếu tố nào . thần linh hay con người có cảm nhận riêng ?

Đặng Lệ Thủy
18-05-2007, 05:34 PM
Hic mới đọc xong về nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng mà mệt quá :) mình cũng là người không mấy tin vào chuyện tâm linh. Có thể chưa gặp chuyện để có thể tin nhưng đọc những chuyện này mình cũng phải suy nghĩ :D nhưng cũng chỉ tin một phần thôi ko biết tại sao :)

Quang Thắng
18-05-2007, 05:51 PM
Những chuyện như trên chúng ta chỉ có thể tin khi được giải thích bằng những luận cứ khoa học xác đáng, và cũng đã có rất nhiều giải thích về mặt khoa học đối với các hiện tượng kể trên.

Chúng ta sống ở đất nước phật giáo vì vậy có thể nói chúng ta tin vào đời sống tâm linh cũng như thực hiện các lễ giáo theo phong tục truyền thống, tuy nhiên tránh để tư tưởng lạc lối trở thành "mê tín dị đoan".

Thu Trang
19-05-2007, 09:33 AM
Papa và mama em còn mua cả đĩa về coi cô ấy kể và báo đọc nữa cơ, tất nhiên em tò mò cũng có coi :D nhưng nói thật tin thì ko dám tin lắm vì mình ko thấy thật mắt.Mà tin thì cũng thấy ghê ghê.

Đây chắc ko bị cho là mê tín dị đoan chứ nhỉ? vì em thấy có nhiều người như vậy mà.Nghĩ mà nói chuyện được với người đường âm ,có hôm em hỏi thế cố này nói chuyện với người âm là người nước ngoài thì nói tiếng gì?:D hay ma biết nói tất cả các thứ tiếng nhờ .:D

Đặng Hồng Quân
19-05-2007, 10:39 AM
Có anh bạn bảo tôi: Người Việt mình không có tâm thức tôn giáo triệt để mà chỉ hay tin các "điềm". Một cụ lão thành, 57 năm tuổi Đảng, sáng ra đi đâu vẫn ngại gặp cô hàng xóm nặng vía. Thấy cô là cụ quay vào chờ một lúc sau mới đi.

Cháu gái 19 tuổi, đoàn viên, võ sĩ Teakwondo gọi điện giật giọng: "Bác ơi hôm qua cháu nằm mơ thấy cắt móng tay, có sao không bác?". Bác bảo: "Theo sách giải đoán giấc mơ thì mơ thấy cắt móng tay là điềm báo sẽ cãi nhau vặt với mấy đứa cùng lớp". "Ôi thế thì chả sao, cháu cứ lo bố đi công tác xa có chuyện gì!".

Chuyện các quan lớn, quan bé các đại gia, tiểu gia có "bốc sư" tư cũng không hiếm. Nhất cử nhất động, "phi vụ" nào cũng phải xin một quẻ. Thấy bảo rút thẻ xăm, bấm giờ, bấm quẻ, tính tuổi các đối tác rồi phán như thần: Được! Đại phát! Nếu phi vụ đó thắng đậm thì đãi thầy vài vé, thắng nhạt thì một chầu bia ôm. Thua thì thầy sẽ lý giải rành rẽ tại sao để lần sau biết mà né.

Vừa gặp bạn cũ làm cấp vụ ở trung ương đi cùng một đại văn sĩ, thầy phán luôn: Ông không được đi dép có quai, phải đi giày, đen, nâu là hỏng. Còn ông cắt ria đi cho gọn, đầu tóc cầm kiểu đinh thế kia, mất hết lộc có khi còn ốm đau nữa ấy chứ, mình ăn ở cái oai "xuất giá công khanh" kia mà. Thế mà rồi hai vị kia cũng đổi giầy sửa tóc thật! Thôi cứ theo cụ Khổng: Với quỷ thần cứ kính nhi viễn chi. Kính cẩn vẫn hơn. Chả biết có quỷ thần hay không? Nhưng nhỡ có thì sao!

Nhiều gia đình ngân sách chi cho "tâm linh": Cúng vái ngày sóc vọng, ngày giỗ, cúng sao đầu, giữa, cuối năm, xem bói, đi đền, đi chùa, có khi cả "tua" liên hoàn 10 chùa thiêng một lượt, có khi tour quốc tế tâm linh sang tận Tây Tạng hay Myanmar vài ngàn USD một người... cộng lại chắc còn hơn ngân sách chi cho sinh hoạt văn hoá nghệ thuật. Nói gì nữa, tâm linh mà không là văn hoá à?

Danh lam thắng cảnh là nguồn thu của quốc gia và môi trường văn hoá tâm linh của quốc dân. Thí dụ chùa Hương, chùa Bà, điện Hòn Chén... chẳng là một nguồn thu ngân sách quan trọng của địa phương sao.

Vụ cáp treo chùa Hương từng gây ra một cuộc chiến kinh tế giữa mấy công ty. Sở Thừa Thiên-Huế thu mỗi thẻ xăm tre có số và lời giải ở Hòn Chén 2.000đ, chùa Bà An Giang bỏ 8 tỉ đồng làm một trại điêu khắc quốc tế cho du lịch tỉnh nhà.

Còn hàng vạn chùa, đền, miếu thiêng khắp nước là nơi hành hương của mấy chục triệu người quanh năm chi thu không biết có tính cho ngành công nghiệp không khói hay không.

Người ta khánh thành chùa Đồng mới lớn nhất Việt Nam. Một đại gia chi không biết mấy trăm tỉ cho một Đại Nam Quốc Tự xem ảnh thấy hoành tráng hết ý. Các danh lam còn thu nhập cao, dân chi nhiều tiền vì gắn với các lễ hội.

Du lịch - văn hoá - tâm linh thành ba trong một ở môi trường danh lam thắng cảnh. Tôi tự hỏi đây có phải là một quốc sách văn hoá và kinh tế của nước ta hay không; tự phát hay có chiến lược; hay Nhà nuớc và nhân dân cùng làm?

Tôn giáo đang là chuyện quá lớn, bao trùm toàn cầu. Tôi chẳng dám lạm bàn vì căng thẳng tôn giáo gần kề với súng đạn, bạo loạn và đủ sự bất an. Chỉ biết rằng sự an bình của tôn giáo, tự do tín ngưỡng và tự do tâm linh chính là một rường cột của mọi xã hội.

May cho đất nước nào có được sự hài hoà tôn giáo - không cực đoan. Nhà nước và tôn giáo, tôn giáo và văn hoá từng, đang và sẽ là những vấn đề chiến lược "cốt tử" của mỗi quốc gia. Ai ai, làng nào, huyện nào, tỉnh nào, nuớc nào cũng có hai phận đạo và đời. Hài hoà được thì tốt nhất. Quá đà u mê-tín hay thực dụng trắng trợn tàn bạo đều làm mất cân bằng đạo và đời.

Dân gian hay đùa vui khi nói mong muốn của mình: Hoà hợp giữa đạo và đời, giữa chính quyền và tôn giáo, giữa tâm linh với tiền bạc.

Tâm linh có lẽ chẳng siêu hình tý nào!

frommetoyou_myvip
01-06-2007, 08:41 AM
chuyện yểm bùa hình như được nhìu người biết lắm đó, nhưng em cũng chẳng tin là có thật

Mạnh Tùng
20-10-2007, 06:15 PM
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về Kinh Dịch, trong số đó có một công trình đặt lại vấn đề " tác quyền" của bộ Kinh này. Đó là học giả Nguyễn Thiếu Dũng, qua nhiều tìm tòi và nghiên cứu, ông đã nêu ra một số chứng lý để minh chứng rằng Kinh Dịch là sáng tạo của người Việt Nam. Với sự thận trọng cần thiết, Thanhnien Online xin giới thiệu bài viết sau đây của học giả Nguyễn Thiếu Dũng để rộng đường tham khảo.

Từ hai nghìn năm trước khi chúng ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ, tổ tiên chúng ta ở thời đại Hùng Vương đã sáng tạo Kinh Dịch và dùng học thuyết này xây dựng nền tảng cơ bản cho văn hoá Việt Nam, nhờ thế trong suốt một nghìn năm lệ thuộc Trung Hoa, chúng ta vẫn đứng vững không bị đồng hoá như các dân tộc ở Hoa Nam.

Người Trung Hoa không biết từ thời điểm nào đã tiếp thu được Kinh Dịch của Việt Nam và họ cũng đã dùng Kinh Dịch để góp phần xây dựng nền tảng văn hoá của họ. Cho nên trong sinh hoạt, chúng ta có nhiều điểm giống họ, sau một nghìn năm mất chủ quyền, ta mất luôn tác quyền Kinh Dịch và những gì ta nghĩ, ta làm thấy giống Trung Hoa ta đều tự nhận mình học của Trung Hoa. Kỳ thật không phải như vậy. Người Trung Hoa rất trọng hướng Đông, khi họ tiếp khách, chủ nhà ngồi quay mặt về hướng Đông để tỏ chủ quyền. Trong thời lập quốc họ luôn luôn hướng về biển Đông, không kể Nam Kinh những Kinh đô danh tiếng của Trung Quốc đều lần lượt nối nhau tiến dần từ Tây Bắc sang Đông. Ngày nay những thành phố lớn của họ cũng đều tập trung ở bờ Đông. Thế mà trong Kinh Dịch họ phải công nhận hướng Nam là hướng văn minh, mặc dầu trong sử sách họ vẫn cho Hoa Nam là xứ man di. Mỗi khi cần bói Dịch họ đặt Kinh Dịch trên bàn thờ cho quay mặt về hướng Nam như hướng ngồi của Hoàng đế, rồi lạy bái cầu xin. Cử chỉ này cho thấy trong tiềm thức họ không quên nguồn gốc Kinh Dịch đến từ phương Nam, từ đất nước của các vua Hùng.

Trong vòng 60 năm trở lại đây một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã trực giác thấy rằng Kinh Dịch là tài sản của Việt Nam nhưng khi nói như thế họ vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của truyền thuyết nên vẫn thừa nhận Phục Hy là nhân vật sáng tạo Kinh Dịch. Cho nên không tránh được mâu thuẫn.

Ngày nay chúng ta có đầy đủ chứng lý để nói ngay rằng Kinh Dịch là sản phẩm của Việt Nam, do chính tổ tiên người Việt sáng tạo, trên chính quê hương Việt Nam với nhiều bằng chứng vật thể còn lưu dấu trên đồ gốm Phùng Nguyên, đồ đồng Đông Sơn. Phục Hy, Văn Vương chưa từng làm ra Dịch.

1) Chứng lý vật thể : Kinh Dịch xuất hiện tại Việt Nam một nghìn năm trước khi có mặt tại Trung Quốc:

Tại di chỉ xóm Rền, thuộc nền Văn hoá khảo cổ Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ đã đào được một chiếc nồi bằng đất nung (11, tr 642) trên có trang trí bốn băng hoa văn, mỗi băng nầy tương đương với một hào trong quẻ Dịch, theo phép đọc Hổ thể thì đây chính là hình khắc của quẻ Lôi Thuỷ Giải. Đây có thể xem là chứng tích xưa nhất trên toàn thế giới hiện chúng ta đang có được về Kinh Dịch. Chiếc nồi báu vật vô giá này mang trên mình nó lời cầu nguyện của tổ tiên chúng ta về cảnh mưa thuận gió hòa, mong sao được sống một đời an bình không có họa thuỷ tai. Lôi Thuỷ Giải là mong được giải nạn nước quá tràn ngập (lũ lụt), hay nước quá khô cạn (hạn hán). Niên đại của Văn hoá Phùng Nguyên được Hà Văn Tấn xác định: ”Phùng Nguyên và Xóm Rền đều là các di chỉ thuộc giai đoạn giữa của văn hoá Phùng Nguyên. Hiện tại chưa có niên đại C14 cho giai đoạn này. Nhưng hiện nay chúng ta đã có một niên đại C14 của di chỉ Đồng Chỗ là di chỉ mà tôi cho là thuộc giai đoạn sớm của Văn hoá Phùng Nguyên: 3800 + 60 BP (Bln-3081) tức 1850 + 60BC (Hà Văn Tấn 1986: 181-182). Như vậy, các di chỉ Phùng Nguyên và Xóm Rền phải muộn hơn niên đại này. Nhưng Phùng Nguyên và Xóm Rền lại sớm hơn các niên đại C14 của lớp dưới di chỉ Đồng Đậu. Hiện nay lớp này có các niên đại: 3330 + 100BP (Bln-830), 3050 + 80BP (Bln-3711); 3015 + 65BP (HCMV 05/93); 3100 + 50BP (HCMV 06/93).

Nếu tin vào các niên đại C14 này thì giai đoạn giữa của văn hoá Phùng Nguyên nằm vào khoảng giữa thế kỷ 17 và thế kỷ 14 trước Công Nguyên... tương đương với văn hoá Thương ở Trung Quốc, thậm chí với giai đoạn sớm của văn hoá này (1, tr 578-579).

Về phía Trung Quốc, tuy theo truyền thuyết cho là Kinh Dịch do Phục Hy thời đại tối cổ Trung Quốc tạo ra nhưng trên thực tế không có chứng cứ nào để xác nhận chuyện này. Triết gia đầy uy tín của Trung Quốc Phùng Hữu Lan đã khẳng định trong Trung Quốc Triết học sử: ’’Suốt thời nhà Thương chưa có Bát Quái” (bản Hồng Kông 1950, tr 457). Chưa có Bát Quái nghĩa là chưa có Kinh Dịch. Quẻ Dịch xuất hiện sớm nhất ở Trung Quốc là trên sách Tả Truyện thời Xuân Thu-Chiến Quốc (772-221 BC). Vào thời kỳ này trên một số lớn các trống đồng Đông Sơn ở Việt Nam đã có khắc hình quẻ Lôi Thuỷ Giải bằng 6 dải băng nghĩa là đầy đủ 6 hào. Vậy là rõ ràng Kinh Dịch đã có ở Việt Nam từ thời các Vua Hùng, so với chứng cứ cụ thể của Trung Quốc Kinh Dịch đã có ở nước ta trước Trung Quốc cả nghìn năm. Chuyện này chẳng khác chi chuyện tổ tiên ta đã biết trồng lúa nước nghìn năm trước Trung Hoa mà Trần Trọng Kim vẫn viết trong Việt Nam sử lược là người Trung Hoa có công dạy dân ta làm ruộng.

2) Chứng lý ngôn ngữ học : Một số tên quẻ Dịch là tên tiếng Việt không phải tiếng Trung Quốc:

Người ta thường gọi Kinh Dịch hay Kinh Diệc và cứ đinh ninh Diệc là do Dịch đọc chệch đi, kỳ thật tổ tiên ta nói Kinh Diệc và người Trung Hoa đã đọc chệch đi thành Dịch. Tiếng Trung Hoa Dịch còn có thể đọc là Diệc(Xem Khang Hy Từ Điển). Diệc là một loài chim nước, có họ với loài cò. Đây là những loài chim quen thuộc với đồng ruộng, với văn minh nông nghiệp, văn minh Văn Lang. Kinh Dịch là kết tinh của văn minh nông nghiệp, các nhà sáng tạo kinh Dịch Việt Nam lấy hình ảnh con diệc, con cò làm tiêu biểu cho hệ thống triết học của mình là hợp lý, nhưng người Trung Quốc muốn làm biến dạng cho khác đi, cho rằng chữ Dịch là hình ảnh con tích dịch - một loại thằn lằn hay biến đổi màu sắc theo thời gian chẳng thân thiết gần gũi gì với người nông dân cả. Điều này đã được ghi chú rất rõ trên trống đồng Đông Sơn về sau sẽ giải rõ.

Tên tám quẻ đơn Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài đều là tiếng Việt không phải là tiếng Trung Quốc. Các học giả Trung Hoa rất lúng túng khi giải nghĩa nguồn gốc tên những quẻ này vì họ cứ cho đó là tiếng Hoa nên tìm mãi vẫn không lý giải được. Ở đây chỉ dẫn một quẻ để minh chứng. Quẻ Ly không có nguồn gốc Trung Hoa, đây chỉ là chữ ghi âm tiếng Việt, một dạng chữ Nôm loại giả tá. Kinh Dịch bản thông hành ghi là Ly, âm Bắc Kinh đọc là Lĩ, nhưng bản Bạch Thư Chu Dịch đào được ở Mã Vương Đôi thì lại ghi là La, âm Bắc Kinh đọc là lúo (đọc như lủa). Rõ ràng đây là cách ghi của hai người Trung Hoa ở hai nơi hoặc hai thời điểm nghe người Việt Nam nói là quẻ Lửa, một người bèn ghi là lĩ (Ly), một người lại ghi là lủa (La). Còn người Việt Nam viết chữ Nôm Lửa thì lại dùng chữ lã làm âm. Cả ba âm Ly, La, Lã đều là cận âm với âm lửa, dùng để ghi âm âm lửa. Như vậy quẻ Ly không phải là quẻ có nghĩa là lìa hay là dựa như người Trung Hoa nghĩ mà chính là quẻ Lửa tức là quẻ Hoả như về sau họ đã dịch đúng nghĩa của nó.

3) Chứng lý đồ tượng: Kinh Dịch Trung Hoa thiếu một hình đồ trọng yếu, trong khi hình đồ này đang được cất giấu tại Việt Nam. Chứng tỏ Việt Nam mới là nước sáng tạo Kinh Dịch.

Đồ tượng và quái tượng (quẻ) là những hình tượng cơ bản cấu tạo nên Kinh Dịch. Cả hai đều có những giá trị bổ túc cho nhau để hình thành Kinh Dịch. Đọc Dịch mà chỉ chú trọng đến quẻ không chú ý đến Đồ là một thiếu sót đáng tiếc vì như thế là đã bỏ qua quá nửa phần tinh tuý của Dịch. Những ứng dụng quan trọng của Dịch đa phần đều căn cứ trên đồ, như thuyết trọng nam khinh nữ chi phối sâu đậm nhân sinh quan Trung Quốc thời kỳ phong kiến là ảnh hưởng Càn trọng Khôn khinh của Tiên Thiên Đồ, xem phong thuỷ, coi tử vi, học thuyết Độn Giáp, Thái Ất phát sinh ở Trung Hoa là do ảnh hưởng của Hậu Thiên Đồ. Y học, Võ thuật, Binh Thư Đồ trận lừng danh của Trung Quốc đều từ các Thiên Đồ mà ra. Theo thuyết Tam tài, cơ sở để xây nên toà lâu đài Kinh Dịch thì phải có ba Đồ chính là Tiên Thiên Đồ, Hậu Thiên Đồ và Trung Thiên Đồ nhưng suốt cả hai nghìn năm nay, Trung Quốc chỉ lưu hành hai Đồ Tiên Thiên và Hậu Thiên. Người Trung Hoa tuyệt nhiên không tìm ra Trung Thiên Đồ, cuối cùng họ đành bó tay, rồi thản nhiên kết luận, không cần có Trung Thiên Đồ. Đã có Tiên Thiên Đồ làm thể và Hậu Thiên Đồ làm dụng là đủ lắm rồi. Đây chính là khuyết điểm lớn nhất của Dịch học Trung Quốc mà cũng là cái may lớn nhất cho ta để từ chỗ sơ hở này ta tìm ra chứng lý quan trọng nhất, quyết định nhất để xác nhận tác quyền của Việt Nam. Trung Quốc không có Trung Thiên Đồ, một Đồ quan trọng bậc nhất dùng làm la bàn để viết nên kinh văn các lời hào, Việt Nam lại cất giữ Trung Thiên Đồ! Vậy thì ai là chủ nhân Kinh Dịch? Câu hỏi đã được trả lời, bí ẩn hai nghìn năm đã được trưng ra ánh sáng.

Tác giả bài này có may mắn là đã thiết lập được Trung Thiên Đồ. Đồ này quẻ Càn ở phương Nam, quẻ Đoài ở phương Đông Nam, quẻ Tốn ở phương Đông, quẻ Khảm ở phương Đông Bắc, quẻ Ly ở phương Bắc, quẻ Cấn ở Tây Bắc, quẻ Chấn ở Tây và quẻ Khôn ở phương Tây Nam.

Đây chính là Đồ thứ ba trong số ba Thiên Đồ trọng yếu của Kinh Dịch mà người Trung Hoa không tìm ra. Nếu Tiên Thiên Đồ là Thiên Đồ, Hậu Thiên Đồ là Địa Đồ thì Trung Thiên Đồ là Nhân Đồ nghĩa là Đồ nói về con người. Có một danh hoạ tài ba nào chỉ trong một hình vẽ có thể biểu đạt ba hình thái khác nhau về con người? Điều này chưa ai làm được, ngay cả máy móc tân tiến nhất, hiện đại nhất cũng không thể làm việc này. Thế mà Trung Thiên Đồ cùng một lúc có thể diễn tả ba trạng thái khác nhau đó: Trung Thiên Đồ có mục đích nói về những vấn đề liên quan đến con người cho nên hình đồ Trung Thiên có thể biểu thị ba khía cạnh khác nhau của con người về mặt sinh lý, về mặt siêu lý và về mặt đạo lý:

a) Con người sinh lý: Quẻ Càn tượng cho bán cầu não phải, Quẻ Khôn tượng cho bán cầu não trái. Khi một người bị tai biến mạch máu não ở bán cầu phải thì tay chân bên trái thường bị liệt, ngược lại cũng thế. Vì Càn thuộc dương nên liên quan đến tay trái gồm hai quẻ Chấn dương và Cấn dương và vì tay trái đã dương thì chân trái lại thuộc về âm nên chân có quẻ Ly âm. Trái lại, bán cầu não trái Khôn âm sẽ ảnh hưởng đến tay phải Trạch âm và Tốn âm cùng với chân Khảm dương. Điều này tương đồng với kết quả thực nghiệm của Leokadia Podhorecka (1986), trình bày năm 1986 tại hội nghị quốc tế về Trường sinh học tại Zagrev về tính bất đối xứng phải - trái trong nhân thể (2, tr 117). Hình đồ cũng thể hiện được y lý Đông Phương cho rằng Thiên khí tả truyền: Dương khí đi từ bên phải (Càn dương) sang bên trái (Cấn, Chấn dương), Địa khí hữu truyền: Âm khí đi từ bên trái (Khôn âm) sang bên phải (Đoài, Tốn âm). Con người muốn sống cần phải thở (Càn phế, chủ khí), sau đó phải được nuôi dưỡng bằng thức ăn (Khôn, tỳ vị). Con người khoẻ mạnh khi tâm (Ly) giao hoà với thận (Khảm), nếu tâm thận bất giao sẽ sinh tật bệnh, vị y tổ Việt Nam Lê Hữu Trác đã phát triển học thuyết này để chữa bệnh rất hiệu quả.

Con người siêu lý

b) Con người siêu lý: Theo trãi nghiệm của các hành giả Yoga hoặc Khí công, Thiền, thì cơ thể có bảy trung tâm năng lượng tác động chi phối sự sống của con người, gọi là bảy đại huyệt hay là bảy luân xa. Trung Thiên Đồ chính là biểu đồ hệ thống bảy luân xa đó, theo thứ tự từ dưới lên: luân xa 1 là Hoả xà Kundalinê chính là quẻ Ly hoả, Luân xa 2 là Mệnh môn quan chính là quẻ Khảm (thận thuỷ), Luân xa 3 là Đơn điền Ngũ Hành Sơn chính là quẻ Cấn sơn, Luân xa 4 là Luân xa tâm gồm hai quẻ Tốn (tâm âm) và Chấn (tâm dương), luân xa 5 là trung tâm Ấn đường chính là quẻ Đoài, luân xa 6 nằm ở chân mi tóc hay huyệt Thượng tinh mà Đạo giáo thường gọi là Kim mẫu chính là quẻ Khôn (Địa mẫu), Luân xa 7 là huyệt Thiên môn Bách hội chính là quẻ Càn Thiên.

Con người đạo lý

c) Con người đạo lý: Trung Thiên Đồ còn biểu đạt một mẫu người đạo lý tâm linh: quẻ Sơn Tượng cho tính người tham lam muốn tích luỹ như núi (Tham), quẻ Ly Hoả tượng cho người có tính sân như lửa (Sân), quẻ Khảm Thuỷ tượng cho người có tính si như nước đổ dồn về chỗ thấp (Si), ba thói xấu đó sẽ dẫn con người đến chỗ ác tượng trưng bằng quẻ Tốn (tâm âm, nhục tâm, vọng tâm), (như thuyết Tam Độc của Phật Giáo). Nhưng nếu con người biết phát triển tâm từ bi như tình yêu của mẹ tượng bằng quẻ Khôn (Địa Mẫu - Từ Bi), khiến tâm thanh tịnh an lạc tượng bằng quẻ Đoài (Vui, Hỉ), lúc nào cũng sẵn lòng cảm thông tha thứ cho người, tượng bằng quẻ Càn (Xả) thì con người sẽ đạt được cõi phúc, tượng bằng quẻ Chấn (Tâm dương, Chân tâm, Đạo tâm), (như thuyết Tứ vô lượng tâm của Phật giáo).


(còn tiếp)

Mạnh Tùng
20-10-2007, 06:15 PM
4) Phát hiện Trung Thiên Đồ trong truyền thuyết

Kinh Dịch có tám quẻ đơn: Càn còn gọi là Thiên có tượng là trời, là vua, là cha. Khôn còn gọi là Địa có tượng là đất, là hoàng hậu, là mẹ. Khảm còn gọi là Thuỷ có tượng là nước, là cá (ngư). Ly còn gọi là Hoả có tượng là lửa. Cấn còn gọi là Sơn có tượng là núi. Đoài còn gọi là Trạch có tượng là đầm (hồ). Chấn còn gọi là Lôi có tượng là sấm, là con trai trưởng. Tốn còn gọi là Phong có tuợng là gió, là cây (mộc).

Khi tám quẻ đơn chồng lên nhau ta được 64 quẻ kép, nhưng khi tám quẻ đơn được đặt trên vòng tròn ta sẽ được ba thiên đồ căn bản: Tiên Thiên Đồ thường được người Trung Hoa gọi là Tiên Thiên Đồ Phục Hy vì cho là do Phục Hy chế ra, Hậu Thiên Đồ cũng được người Trung Hoa gọi là Hậu Thiên Đồ Văn Vương vì cho là do Văn Vương thiết lập, ở đây chúng tôi chỉ gọi là Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ vì đã chứng minh được Kinh Dịch do người Việt Nam sáng chế nên Phục Hy, Văn Vương chẳng can dự gì vào việc sáng tạo các thiên đồ. Dịch đồ thứ ba chính là Trung Thiên Đồ đã được tổ tiên Việt Nam cất giấu trong truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ.

Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ không chỉ là một huyền sử về nguồn gốc dân tộc "Con Rồng cháu Tiên", một thông điệp về tình đoàn kết, nghĩa yêu thương giữa các dân tộc anh em, đồng bào mà còn chứa đựng một thông tin về di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam đã được tổ tiên chúng ta bí mật cất giữ trong đó: tôi muốn nói đến Kinh Dịch đứa con lưu lạc của Việt Nam đã được Trung Quốc nuôi dưỡng và đã thành danh ở đó. Nếu chúng ta kết hợp những thông tin nằm rải rác trong các truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ, truyện Hồ tinh, Mộc tinh, Ngư tinh ta sẽ thiết lập được một Trung Thiên Đồ mà người Trung Quốc chưa hề biết đến. Theo Kinh Dịch, Lạc Long Quân thường được nhân dân gọi là Bố mỗi khi có việc cần giúp đỡ có thể ký hiệu bằng quẻ Càn có tượng là vua, là cha. Lạc Long Quân thường sống ở Thuỷ phủ ký hiệu là quẻ Khảm có tượng là nước. Lạc Long Quân diệt được Hồ tinh là con cáo chín đuôi sống hơn ngàn năm ở đầm Xác Cáo nay là Hồ Tây, sự kiện này có thể ký hiệu bằng quẻ Đoài tức quẻ Trạch có tượng là đầm. Đất Phong Châu thời Thượng cổ có cây Chiên đàn sống hàng ngàn năm, chim hạc thường đến đậu ở đấy nên nơi đó còn gọi là đất Bạch Hạc (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), lâu ngày cây hoá thành yêu tinh dân gọi là thần xương cuồng, Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra sức đánh đuổi, cứu dân thoát khỏi sự bức hại của xương cuồng. Sự kiện này có thể ký hiệu bằng quẻ Tốn còn gọi là quẻ Phong có tượng là mộc. Lạc Long Quân cũng có công diệt được ngư tinh, con yêu ngư xà ăn thịt người, chuyện này cũng thuộc quẻ Khảm ký hiệu ở trên. Truyền thuyết thường nói chung là Lạc Long Quân (quẻ Càn) diệt hồ tinh (quẻ Đoài), diệt mộc tinh (quẻ Tốn), diệt ngư tinh (quẻ Khảm) để cứu dân, từ đó ta đã có được một vế của Trung Thiên Đồ: Càn - Đoài - Tốn - Khảm. Theo truyền thuyết Lạc Long Quân nói với Âu Cơ (được tôn xưng là Quốc mẫu, là mẹ, ký hiệu là quẻ Khôn): (1, tr 30). Như thế là truyền thuyết đã xác định rất rõ tính cách tương phản giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ. Long Quân thuộc quẻ Khảm (Thuỷ) thì Âu Cơ thuộc quẻ Ly (Hoả). Truyền thuyết kể tiếp: "Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc) suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang". Lên Phong Châu là lên núi ký hiệu là quẻ Cấn có tượng là núi, tôn người con cả ký hiệu là quẻ Chấn vì Chấn có tượng người con trưởng. Ta lại có thêm vế thứ hai của Trung Thiên Đồ: Ly - Cấn - Chấn - Khôn. Đến đây ta đã khai quật được Trung Thiên Đồ từ lớp ngôn ngữ truyền thuyết, các quẻ xếp theo thứ tự Càn - Đoài - Tốn - Khảm - Ly - Cấn - Chấn - Khôn theo chiều ngược kim đồng hồ.

5) Vai trò Trung Thiên Đồ trong việc hình thành văn bản Kinh Dịch:

a) Bố cục Kinh Dịch: Kinh Dịch có 64 quẻ, 30 quẻ đầu thuộc về thượng kinh, 32 quẻ sau thuộc về hạ kinh. Nhìn vào cách sắp đặt vị trí các quẻ Dịch trong bản kinh văn thông hành ta không thể không nghĩ rằng các nhà làm Dịch đã sử dụng Trung Thiên Đồ như là la bàn để phân bố các quẻ. Mở đầu kinh văn là hai quẻ Càn số 1, Khôn số 2 đúng như vị trí Càn Khôn đứng bên nhau trên Trung Thiên Đồ, cuối thượng kinh là hai quẻ Khảm số 29 và Ly số 30 đúng như vị trí Khảm Ly dưới Trung Thiên Đồ. Mở đầu hạ kinh là hai quẻ Trạch Sơn Hàm số 31 và quẻ Lôi Phong Hằng số 32 đúng như vị trí quẻ Đoài Trạch đối qua tâm với quẻ Cấn Sơn tạo thành quẻ Trạch Sơn Hàm, quẻ Chấn Lôi đối qua tâm với quẻ Tốn Phong tạo thành quẻ Lôi Phong Hằng nằm giữa Trung Thiên Đồ. Cuối hạ kinh là hai quẻ Thuỷ Hoả Ký Tế số 63 và Hoả Thuỷ Vị Tế số 64 đúng như vị trí quẻ Khảm Thuỷ giao hoán với quẻ Ly Hoả tạo thành.

Khác hẳn với Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ các quẻ Càn Khôn Ly Khảm đứng đối nhau qua tâm, biểu hiện trạng thái phân ly, trên Trung Thiên Đồ các quẻ Càn Khôn Ly Khảm đứng gần nhau từng đôi một biểu hiện trạng thái giao hội. Ở tự nhiên mọi vật có thể đối nghịch, vừa tương phản vừa tương thành. Nhưng ở con người thì khác, con người là một chỉnh thể, một thái cực, một toàn đồ âm dương phải tương hội điều hoà, nếu một bên thiên thắng con người sẽ bất ổn, phát sinh bệnh tật.

b) Đặt tên cho quẻ Dịch: Nhiều nhà chú giải Kinh Dịch Trung Quốc khi giải thích nghĩa chữ giao của hào thượng cửu quẻ Thiên Hoả Đồng nhân số 13 "Đồng nhân vu giao" thường chỉ dừng lại ở vấn đề chính trị xã hội nên hiểu giao theo một nghĩa rất hẹp, họ cho giao là vùng đất ngoại ô kinh thành nếu muốn đồng thì nên tìm người ở xa mà liên hiệp. Hiểu như vậy thì không sát nghĩa và không đúng với lập ý của người làm ra Kinh Dịch. Có lẽ vì người Trung Quốc trong tay không có la bàn Trung Thiên Đồ là đồ đã bị Tổ tiên người Việt Nam cất giấu rất kỹ không truyền ra ngoài nên không hiểu rằng giao tức là giao hội, khi hoả xà Kundalinê từ lâu cuộn mình ở đốt xương cùng có đủ điều kiện lên hợp nhất với thần Vishnou cư trú ở huyệt Thiên môn nghĩa là khi luân xa số 1 là quẻ Ly Hoả hoà nhập với luân xa số 7 là quẻ Càn Thiên là lúc con người đạt đến trạng thái toàn thức, hạnh phúc hoàn hảo nhất, con người đạt đến mức độ giao hội cùng vũ trụ, tha nhân, vì thế mới đặt tên cho quẻ này là Thiên Hoả Đồng nhân. Giao nằm ở hào thượng cửu (theo Dịch lý thuộc tài thiên), tức là ở mức độ đồng nhân cao nhất, mức độ hoà đồng siêu việt, Nếu hiểu giao như nghĩa các chữ Đông giao (ngoại ô phía đông), Nam giao (ngoại ô phía Nam) thì không phù hợp với cấu trúc quẻ Dịch, hiểu như vậy là mặc nhiên nhận giao thuộc về đất phải nằm ở hào hai, tài Địa. Cũng như quẻ Đồng Nhân, các Dịch học gia Trung Quốc cũng bị hạn chế khi hiểu quẻ Đại Hữu chỉ là sở hữu tài sản vật chất họ không ngờ rằng Đại Hữu là sở hữu tài sản tinh thần vĩ đại, quẻ này chính là ghi lại thành tựu một quá trình công phu trãi nghiệm của hành giả đã hợp nhất với vũ trụ, mà mỗi hào mô tả thành quả một chặng đường liên tục từ hạ đẳng công phu đến thượng đẳng công phu.

c) Đọc lại Kinh Dịch: Nhờ có Trung Thiên Đồ ta có thể đọc lại Kinh Dịch một cách chính xác hơn, điều này nghe có vẽ nghịch lý vì ta làm sao thông thạo ngôn ngữ Trung Hoa hơn người Trung Hoa được, nhưng vì ta có Trung Thiên Đồ là la bàn tổ tiên ta dựa vào đấy để viết các lời hào nên chúng ta có cách đọc thuận lợi hơn. Ở đây tôi chỉ xin dẫn ra một thí dụ để minh chứng. Kinh Dịch có ba quẻ nói đến Tây Nam, quẻ Giải: "Lợi Tây Nam", quẻ Kiển: "Lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc”, quẻ Khôn: "Tây Nam đắc bằng, Đông Bắc táng bằng”. Căn cứ vào Hậu Thiên Đồ, quẻ Khôn (đất) nằm ở hướng Tây Nam, quẻ Cấn (núi) nằm ở hướng Đông Bắc, Vương Bật, người thời Tam Quốc, trong Chu Dịch chú giải thích như sau: ”Tây Nam là đất bằng, Đông Bắc là núi non. Từ chỗ khó mà đi đến chỗ bằng, cho nên khó khăn sẽ hết, từ chỗ khó mà đi lên núi, thì sẽ cùng đường”, Khổng Dĩnh Đạt trong Chu Dịch chính nghĩa viết: ”Tây Nam thuận vị là hướng bằng phẳng dễ đi, Đông Bắc hiểm vị là chỗ trắc trở khó khăn. Đường đi lắm trắc trở, tất cả đi đến chỗ bằng dễ đi thì khó khăn sẽ hết, trái lại nếu đi vào chỗ hiểm thì càng bế tắc cùng đường. Đi ở phải hợp lý vậy”, (3, tr 846).Trương Thiện Văn trong Từ điển Chu Dịch giải thích: ”Lợi cho việc đi về đất bằng Tây Nam, không lợi cho việc đi về phía núi non đông bắc. Tây nam tượng trưng cho đất bằng, Đông bắc tượng trưng cho núi non. Đây nói ở thời kiển nạn mọi hành động đều phải tránh khó khăn hiểm trở, phải hướng về phía bằng phẳng thì mới có thể vượt qua kiển nạn,vì vậy nói lợi tây nam, bất lợi đông bắc”, (3, tr 907). Nói chung lời giải thích của đa số Dịch gia Trung Quốc đều dựa vào vị trí các quẻ trên Hậu Thiên Đồ và đều cho núi là trở ngại, nhưng giải như vậy không thể khớp với Dịch lý, quẻ Kiển tức là quẻ Thuỷ Sơn Kiển, hình tượng nước ngập núi, trận đại hồng thuỷ. Vậy núi chỉ là trở ngại thứ yếu. Sự thật đối với người cổ đại núi tuy có khổ ải hơn nơi bằng phẳng nhưng không phải là trở ngại đáng kể. Đối với người cổ đại núi là nhà, hang hốc là nhà. Núi che chở cho họ, cung cấp thực phẩm, đùm bọc nuôi dưỡng họ. Nói cho cùng với tượng quẻ như vậy, người ta không lo về núi mà nỗi lo triền miên chính là nước. Suốt thời cổ đại, nhất là ở Việt nam, chiến tranh bất tận là chiến cuộc giữa NGƯỜI với NƯỚC. Con người khơi dòng lấy đất canh tác, đẩy lùi biển để giành đất sống. Khi con người thắng biển nghĩa là khi Sơn tinh thắng Thuỷ tinh, Kiển nạn được giải. Vấn đề lật ngược, quẻ Thuỷ Sơn Kiển lật thành quẻ Sơn Thuỷ Mông, Thoán từ ca ngợi chiến công thần thánh này là Lợi Trinh (thắng lợi bền chặc).

Ở Hậu Thiên Đồ cũng như ở Trung Thiên Đồ, quẻ Khôn cùng ở vị trí Tây Nam nhưng ở vị trí Đông Bắc thì quẻ của hai đồ hoàn toàn ngược nhau. Nếu Hậu Thiên Đồ là quẻ Cấn (núi) thì ở Trung Thiên Đồ lại là quẻ Khảm (nước). Ta thấy rõ muốn hiểu nghĩa lời hào của ba quẻ đó không thể dựa vào vị trí quẻ trên Hậu Thiên Đồ, vì không chính xác. Chỉ có thể dựa vào vị trí quẻ trên Trung Thiên Đồ mới làm sáng tỏ được nghĩa quẻ. Con người không ngại núi mà chỉ e sông, e biển. Câu lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc không phù hợp với thực tiển Trung Quốc vì con đường sống của họ luôn dịch chuyển từ Tây Bắc sang Đông Bắc, hành trình các kinh đô của các triều đại Trung Hoa thường đi từ núi ra biển:Tây An - Trường An - Lạc Dương - Khai Phong - Bắc Kinh. Đó là hành trình ngược với lời hào ba quẻ: Giải, Khôn, Kiển.

Trong khi đó lời hào ba quẻ trên lại hoàn toàn phù hợp với thực tiển Việt Nam. Đối với Việt Nam, Đông Bắc mới thực là bất lợi, đó là biển cả là cửa ngỏ cho phong kiến phương bắc xâm lược. Việt Nam chỉ có con đường sống là mở nước về phương Nam và Tây nam. Lịch sử Việt Nam đã chứng thực lời đó, đã hai lần chúng ta tiến về hướng Tây Nam, đợt đầu tiến về đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, đợt sau tiến về vựa lúa châu thổ sông Cửu Long. Lời hào trên vẫn còn là lời dự báo ứng nghiệm với Việt Nam ngày nay: Tây Nam đắc bằng khi gia nhập khối Đông Nam Á, con đường Tây nam đang ở thế thuận lợi.


6/ Kết luận:

Chúng ta còn nhiều chứng lý từ vật thể đến phi vật thể, từ ngôn ngữ đến văn bản, nhưng mấu chốt hơn hết để chứng minh Kinh Dịch do Tổ tiên người Việt Nam sáng tạo vẫn là vai trò của Trung Thiên Đồ. Khi một người muốn chứng minh một vật là sản phẩm do chính mình đúc ra thì ngườI đó phải trưng ra khuôn đúc, ở đây cũng vậy Trung Quốc không có Trung Thiên Đồ giống như không có khuôn đúc thì làm sao bảo rằng Trung Quốc đã sáng chế ra Kinh Dịch. Thật ra Trung Quốc chỉ có công phát huy Kinh Dịch nhờ đó Kinh Dịch mới có bộ mặt vĩ đại như ngày nay, cũng như họ đã làm rạng rỡ cho Thiền nhưng không ai có thể quên Thiền có nguồn gốc từ Phật giáo Ấn Độ. Đã đến lúc cái gì của César phải trả lại cho César. Khi chúng ta nhận ra rằng Kinh Dịch là di sản của Tổ tiên ta sáng tạo, ta sẽ hiểu được do đâu ta cũng cùng giải đất với các dân tộc vùng Hoa Nam, núi liền núi, sông liền sông mà họ bị đồng hoá còn chúng ta thì không. Kinh Dịch chính là cuốn Cổ văn hoá sử của Việt Nam mà Tổ tiên chúng ta còn lưu lại ngày nay, tuy có bị sửa đổi nhuận sắc nhiều lần nhưng những vết tích của nền văn minh thời các vua Hùng dựng nước vẫn còn đậm nét trong nhiều quẻ Dịch.

Người sáng tạo Kinh Dịch đã dựa vào Trung Thiên Đồ để bố cục vị trí các quẻ đúng như bản thông hành hiện đang phổ biến. Các Dịch học gia Trung Quốc căn cứ vào vị trí các quẻ theo Hậu Thiên Đồ nên có nhiều câu trong Kinh văn bị họ giảng sai với ý nguyên tác, muốn giảng cho đúng phải dựa vào Trung Thiên Đồ, không thể làm khác được.

Trung Thiên Đồ giữ một vị trí quan trọng và quyết định như vậy đã được Tổ tiên Việt Nam cất giấu rất kĩ trong truyền thuyết Lạc Long Quân Âu Cơ. Từ truyền thuyết này có thể tìm lại Trung Thiên Đồ. Trung Thiên Đồ còn được khắc ghi cẩn trọng trên Trống đồng Đông Sơn có điều kiện tác giả bài này sẽ công bố sau.

Chúng tôi còn nhiều minh chứng khác để kiện toàn chứng lý cho kỳ án này. Không còn nghi ngờ gì nữa, Kinh Dịch chính là sáng tạo của Tổ tiên Việt Nam. Muốn hiểu đúng bản chất văn hoá Việt Nam không thể không khảo sát Kinh Dịch, như là sáng tạo của Việt Nam.

Trần Ánh Tuyết
21-10-2007, 09:59 PM
Ma là một khái niệm trừu tượng, một phần phi vật chất của một người đã chết (hay hiếm hơn là một động vật đã chết). Theo quan niệm của một số tôn giáo và nền văn hóa, con người gồm thể xác (mang tính chất vật chất) và linh hồn (mang tính chất phi vật chất). Khi thể xác chết, linh hồn xuất khỏi thể xác. Nếu linh hồn đó không có cơ hội đầu thai hoặc nơi trú ngụ chung với các linh hồn khác mà tương tác với cõi thực có con người sẽ gọi là "ma", "hồn ma", "quỷ"; nhưng nếu các phần phi vật chất đó tương tác với cõi thực của con người theo tình cảm, theo trách nhiệm được giao của các tôn giáo thì lại gọi là "hồn", "linh hồn", "thánh", "thần", "thiên sứ". Phật giáo gọi linh hồn người mới mất là hương linh.

Thực tế thì khi nói đến ma người ta chỉ nghĩ đến những vật thể phi hình dáng, khó làm hại người. Nhưng khi nói đến "quỷ", thì đó là một khái niệm đáng sợ. Trong chuyện kể dân gian các nước thường lưu truyền những câu chuyện về quỷ từng giết và ăn thịt người rất hãi hùng dễ sợ. Ma quỷ có thể nhập vào người sống.

Không có cơ sở xác quyết là có ma một cách chắc chắn và khoa học cho đến nay. Nhưng tùy vào từng người, lứa tuổi, tôn giáo, chủng tộc mà họ tin là có ma hay không. Nói chung phụ nữ, trẻ em, người già, vùng nông thôn thì thường dễ tin là có ma hơn các đối tượng khác.

Ma thường được miêu tả là một dạng người (mặc dù cũng hiếm khi đề cập tới ma động vật), nhưng miêu tả thông thường là "trắng bạc", "cái bóng lờ mờ", "nửa trong suốt", hay "tựa như sương mù", "đống đen thùi lùi". Ma không có cơ thể sống như con người. Xã hội của ma theo nhiều người là "âm phủ" còn chỗ ở của ma là cái mộ (sống cái nhà thác cái mồ) vì vậy họ xây dựng nhà mồ rất đẹp có nhiều nghĩa địa khang trang như một thành phố [1] nhưng ma cũng có thể vương vất ở những nơi tăm tối, vắng vẻ nơi có liên quan đến họ khi còn sống. Theo quan điểm một số người thì chỉ có người có "duyên" với linh hồn đó mới có thể nhìn thấy linh hồn hoặc chỉ những người có khả năng đặc biệt còn gọi là các nhà ngoại cảm là có thể thấy và tương tác với linh hồn hoặc ma. Nhiều người cho rằng ma có khả năng biết tất cả nhưng gì người sống nghĩ, có khả năng biết được các việc đã, đang và sắp xảy ra như kết quả xổ số (số đề) hoặc có khả năng tác động lên thể xác, lời nói của người sống như hiện tượng lên đồng, tác động lên cảm quan người sống như dắt người sống đi lạc vào bụi, xúi người sống ăn đất mà tưởng ăn bánh hoặc ma có thể tác động lên vật chất như tạo ra tiếng động, rung cây, xô lệch bàn ghế ...

Trong dân gian Trung Quốc, ma không có bóng và không được phản chiếu lên gương. Ngoài ra, đa số ma còn sợ ánh sáng Mặt Trời và các thần thánh. Do đó người ta thường dùng các loại bùa và dấu hiệu như bát quái, thánh giá, máu chó, tỏi, củ hành, cây dâu, cây đồng đình... để trừ ma. Tuy nhiên theo lời kể của một số người cho rằng họ đã từng thấy ma, các vật đó không tác dụng gì mà họ cũng chẳng giải thích được tại sao ma lại không biết sợ.

Thanh Sơn
13-11-2007, 06:27 PM
hay thật lâu lâu em lại nghĩ về XH này một chút nhưng mà rồi lại thấy nản ngay bởi Xh nayd nhiều cái quá là chán quá buốn cười , nhiều lúc em cũng nghĩ ừh mình xẽ cố gắng để làm cuộc sống tươi đẹp hơn giúp được nhiều người hơn , rồi em lai thấy những con ngươi trà đạp lên những người khac mà sống dở mọi thủ đoạn kiếm tiền bất chấp những gì mà người khac phải gánh lên đôi vai của họ , chả hiểu người ta nghic gì nữa nhưng mà cố gắng của mỗi cá nhân sẽ làm thế giới này đẹp lên một chút hoặc là rất nhiều

nanhtrang8x
11-09-2008, 04:11 AM
Các bác chịu khó sưu tầm tin tức quá, lại còn copy paste cả một đoạn dài hàng trang thế kia nữa chứ. Nhưng lần sau sưu tầm thì các bác ghi thêm cái nguồn tư liệu vào nữa nhé, QH sắp ban hành cái luật bản quyền ji` ji` ấy, tốt nhất là làm quen với luật dần là vừa...
:ay::ay:Bài viết chỉ mang tính góp ý :ay::ay:

Em là newbie, đừng spam em:(

TVUONG
12-04-2011, 04:50 PM
bạn nào viét về yểm bùa sông Tô Lịch còn thiếu mất một tí đó là Người yểm bùa theo tớ được biết thì Cao Biền, một người gốc trung quốc, là một pháp sư cao tay.
tương truyền ông là người làm hỏng Long mạch miền bắc cho nên từ sau đó chỉ có người miền trung và miền nam mới thành đạt hay nói khác là gỏi giang hơn.