PDA

View Full Version : Tiềm năng và cơ hội ở Tuyên Quang


tunguyenba
19-08-2006, 12:28 PM
Tiềm năng và cơ hội ở Tuyên Quang

[15/05/2006 09:58]


Ngày 29-12-2005 tỉnh Tuyên Quang đã tổ chức Hội thảo: Tuyên Quang- tiềm năng và cơ hội đầu tư. Để các doanh nghiệp có thêm thông tin về tình hình phát triển kinh tế xã hội những năm qua, định hướng phát triển những năm tới và các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư của tỉnh, chúng tôi xin giới thiệu toàn bộ tài liệu này.

A. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
I. Vị trí địa lý, khí hậu, thuỷ văn
1. Vị trí địa lý
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, có toạ độ địa lý: 21o30’ - 22o40’ vĩ độ Bắc và 104o53’-105040’ kinh độ Đông, phía bắc giáp tỉnh Hà Giang, phía đông giáp tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên, phía tây giáp tỉnh Yên Bái và phía nam giáp tỉnh Phú Thọ. Tuyên Quang có diện tích tự nhiên 5.860 km2 trong đó 73% diện tích đồi núi. Toàn tỉnh có 5 huyện và 1 thị xã, với 145 xã, phường, thị trấn.
2. Khí hậu, thuỷ văn
Khí hậu của Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của lục địa Bắc á Trung Hoa, có hai mùa rõ rệt, mùa đông lạnh - khô hạn và mùa hè nóng ẩm-mưa nhiều. Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.295-2.266 mm. Nhiệt độ trung bình 22-230C. Độ ẩm bình quân năm là 85%.

Tuyên Quang có 3 sông lớn chảy qua đó là:
Sông Lô, đoạn chảy qua tỉnh dài 145 km, lưu lượng lớn nhất 11.700 m3/giây, lưu lượng nhỏ nhất 128 m3/giây. Đây là đường thuỷ duy nhất nối Tuyên Quang với các tỉnh khác lền kề và có khả năng vận tải với các sà lan, tàu thuyền có sức chứa hàng chục tấn vào mùa khô và hàng trăm tấn vào mùa mưa
Sông Gâm, đoạn chảy qua tỉnh dài 170 km, có khả năng vận tải đường thuỷ, nối các huyện Na Hang, Chiêm Hoá với tỉnh lỵ
Sông Phó Đáy, đoạn chảy trên địa phận Tuyên Quang dài 84 km.
Ngoài ra, Tuyên Quang còn có các sông nhỏ khác liên kết với nhau thành mạng lưới theo lưu vực 3 sông chính. Đây là nguồn cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, đồng thời chứa đựng tiềm năng phát triển thuỷ điện của tỉnh trong tương lai, trong đó có nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang đang được xây dựng với công suất 342 MW.
II. Hạ tầng cơ sở
1. Hệ thống đường giao thông: Tuyên Quang có các đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 2 đi qua địa bàn tỉnh 90 km từ Phú Thọ lên Hà Giang, Quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi qua huyện Sơn Dương, Yên Sơn đi Yên Bái, Quốc lộ 2C từ thị xã Vĩnh Yên-Sơn Dương-Thị xã Tuyên Quang. Toàn tỉnh có 224,6 km đường quốc lộ; 287,6 km đường tỉnh; 657,8 đường huyện; 85 km đường đô thị; kết cấu mặt đường bao gồm các loại: cấp phối, thấm nhập nhựa và bê tông. Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn, 96,3% thôn, bản có đường ô tô đến trung tâm. Ngoài ra, còn có mạng lưới sông suối khá dày và phân bố tương đối đều giữa các vùng, mật độ trung bình 900m/km2. Hình thành ba lưu vực chính là: lưu vực sông Lô, lưu vực sông Gâm và lưu vực sông Phó Đáy. Sông Lô và sông Gâm có thể đi lại vào mùa cạn với tàu trọng tải 200 tấn.
2. Hệ thống điện: Tuyên Quang được cung cấp thông qua trạm biến áp 110 KV trên tuyến 110KV Thác Bà - Thái Nguyên và trạm biến áp 35KV trên tuyến 110KV Thác Bà - Tuyên Quang. Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có 613 trạm biến áp các loại; 1.447,8 km đương dây tải điện từ 6 KV - 35KV. Tính đến hết năm 2005 đã có 100% số xã có điện lưới quốc gia, tỷ lệ số hộ được dùng điện lưới quốc gia đạt 84,5%.
3. Thông tin liên lạc Đến nay mạng lưới thông tin liên lạc tiếp tục phát triển, 145/145 xã, phường, thị trấn có điện thoại, bình quân 100 người dân có 5,2 máy điện thoại, tổng số máy điện thoại trên địa bàn toàn tỉnh là 37.700 máy; 119/145 xã, phường có nhà bưu điện văn hoá xã; 100% số xã có thư báo trong ngày; 100% huyện, thị có trạm thu phát truyền hình, 86% tỷ lệ dân số được nghe đài phát thanh; 75% tỷ lệ dân số được xem truyền hình. Phủ sóng di động tới các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ, khu đông dân cư và các tuyến quốc lộ.
4. Hệ thống cấp nước sinh hoạt Tuyên Quang đã và đang tổ chức đầu tư xây dựng nhằm tăng số người được sử dụng nước sạch, trong đó tỷ lệ dân ở khu vực thành thị được sử dụng nước sạch, tỷ lệ dân ở vùng nông thôn được dùng nước sạch 60%. Những năm qua tỉnh đã chú trọng đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung và cấp nước nhỏ để cho nhân dân miền núi cao và nông thôn sử dụng nhằm đạt trên 75% dân số Tuyên Quang được sử dụng nước sạch.
5. Hệ thống ngân hàng, tài chínhHệ thống ngân hàng thương mại của Tuyên Quang bao gồm: Ngân hàng đầu tư và phát triển, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, có lực lượng nhân viên đủ năng lực và trình độ để phục vụ nhu cầu của các nhà đầu tư trong và ngoài nước như vay vốn, chuyển tiền, thanh toán, bảo lãnh...với thời gian nhanh nhất qua hệ thống điện tử hiện đại. Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn năm 2005 đạt 3.070 tỷ đồng, trong đó huy động tại địa phương đạt 1.110 tỷ đồng.
6. Giáo dụcToàn tỉnh Tuyên Quang 04 trường giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, gồm trường Cao đẳng Sư phạm, trường trung học Kinh tế kỹ thuật, trường Trung học Y tế và trường Kỹ nghệ tỉnh. Các trường có khả năng đào tạo hàng năm cho tỉnh trên 200 giáo viên, trên 300 cán bộ y tế và khoảng 1.000 cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp.
7. Y Tế Tỉnh Tuyên Quang có 4 bệnh viện tuyến tỉnh, 7 bệnh viện tuyến huyện; 100% các xã có trạm y tế và phòng khám đa khoa; có 137/145 trạm xã, phường, thị trấn có bác sỹ. Tổng số giường bệnh là: 1.900 giường, gồm 570 giường thuộc bệnh viện tuyến tỉnh; tuyến huyện 550 giường, tuyến xã 710 giường.
III. Nguồn lực
1. Con người
Dân số trung bình năm 2004 là 719.726 người, với 22 dân tộc anh em sinh sống. Trong đó, dân số trong độ tuổi lao động là 387.992 người, chiếm 53,9%, trong đó lực lượng lao động trong công nghiệp chiếm khoảng 4,2%, ngành lâm, thuỷ sản chiếm 2,6%, dịch vụ chiếm 1%. Trên 80% lực lượng lao động trong độ tuổi làm nông nghiệp và các nghề tự do. Nguồn lao động của Tuyên Quang có thế mạnh là trẻ, có trình độ văn hoá cấp II và cấp III chiếm 51,8%; Chỉ số phát triển con người (HDI) của Tuyên Quang là 0,693 (năm 2001). Năm 2001 tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Năm 2003 đã xoá thôn bản trắng về giáo dục mầm non và đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học đúng độ tuổi. Năm 2004, thị xã Tuyên Quang đạt chuẩn phổ cập bậc trung học. Đặc biệt, tỉnh thường xuyên đầu tư khuyến khích đào tạo, đào tạo lại nghề và dạy nghề cho người lao động; thực hiện đào tạo phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp lớp 12 và thực hiện cơ chế đào tạo mở theo đơn đặt hàng đối với các trường chuyên nghiệp, dạy nghề của tỉnh đảm bảo cho học sinh sau khi ra trường có tay nghề và trình độ chuyên môn vững chắc. Hàng năm tỉnh mở thêm các lớp đào tạo tại chức theo các chuyên ngành nông, lâm nghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi và kinh tế tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
2. Tài nguyên thiên nhiên
Với tổng diện tích tự nhiên 586.800 ha, tỉnh Tuyên Quang có quy mô diện tích ở mức trung bình so với cả nước, nhưng là một tỉnh miền núi có dân số thấp, nên bình quân diện tích tự nhiên theo đầu người lớn, (năm 2004 là 0,87 ha/người). Đất đai Tuyên Quang tương đối tốt, đặc biệt là các huyện phía nam, có thể tạo ra vùng chuyên canh chè, mía, cây ăn quả cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Diện tích đất nông nghiệp: 71.635,1 ha, chiếm 12,21%, đất lâm nghiệp có rừng 363.130,2 ha, chiếm 61,88%, đất chuyên dùng 13.709,3 ha, đất ở 4.851,2 ha và đất chưa sử dụng 133.474,2 ha.
Đất đai Tuyên Quang được phân chia làm các khu vực sau:
- Khu vực núi cao phía Bắc: Gồm toàn bộ huyện Na Hang và các xã vùng cao của các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn. Diện tích toàn khu vực này chiếm khoảng trên 50% diện tích tự nhiên của tỉnh. Khu vực này có núi non trùng điệp, nhiều núi đá có độ dốc lớn, tầng đất mỏng phù hợp với việc khoanh nuôi rừng tự nhiên và trồng rừng, phát triển kinh tế lâm – nông nghiệp.
- Khu vực núi thấp: Gồm các xã phía Nam của huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn và Sơn Dương. Diện tích khu vực này chiếm 40% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đồi núi ở đây có độ dốc phổ biến 100 đến 250, thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực và cây ngắn ngày khác.
- Khu vực đồi và thung lũng dọc sông Lô, sông Phó Đáy gồm thị xã Tuyên Quang và phần còn lại của các huyện Yên Sơn, Sơn Dương với diện tích khoảng 10% diện tích tự nhiên của tỉnh. Khu vực này đang và sẽ là địa bàn trọng điểm sản xuất công nghiệp, phát triển các trung tâm kinh tế - xã hội lớn của tỉnh.
Trong lâm nghiệp, tiềm năng nổi bật của tỉnh là diện tích đất lâm nghiệp và đất rừng rất lớn, chiếm đa phần trong tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh. Rừng hiện có: 374.070 ha, trong đó rừng tự nhiên là 297.523 ha, rừng trồng 76.547 ha. Độ che phủ của rừng năm 2005 đạt 63,08%. Đặc biệt rừng Tuyên Quang có một hệ thực vật rất phong phú với 760 loài của 349 chi, 126 họ thuộc 8 ngành thực vật bậc cao có mạch, đó là: hạt kín, thông, tuế, thông đất, khuyết lá thông, cỏ tháp bát, dương xỉ, dây gắm. Ngoài ra, còn có 207 loài cây gỗ cao từ 10 mét trở lên thuộc 60 họ, các loài dây leo thuộc 17 họ và có trên 20 loài thực vật bậc cao, thuỷ sinh thuộc các họ hoà thảo, cói, rong, tóc tiên, rong mái chèo,… Theo danh mục trong sách đỏ Việt Nam, tỉnh Tuyên Quang có 18 loài thực vật quý hiếm như: Trầm hương, nghiến, lát hoa, tuế đá vôi, hoàng đàn, pơ mu…
Kết quả kiểm kê rừng (theo Chỉ thị 286/CT – TTg của Thủ tướng Chính phủ), rừng gỗ chiếm 2/3 diện tích rừng toàn tỉnh, trữ lượng 16.116.000 m3 gồm các loại như keo, lát, mỡ, bạch đàn, thông, xoan, tếch, bồ đề…Trong đó, cây keo và bồ đề có trữ lượng lớn nhất (từ 550.000 – 650.000 m3 mỗi loại), tiếp đến là mỡ và thông mỗi loại từ 120.000 – 300.000 m3; cấy gỗ lát khoảng lượng 66,5 tỷ cây. Ngoài ra, có rừng đặc sản là quế, quy diện tích không lớn (xấp xỉ 4.000 ha) nhưng nó có giá trị kinh tế rất cao.
Tài nguyên khoáng sản: Theo sổ mỏ và điểm quặng tỉnh Tuyên Quang do Cục Địa chất Việt Nam – Bộ Công nghiệp biên soạn năm 1994 và tài liệu của các ngành hữu quan, tỉnh Tuyên Quang có 163 điểm mỏ với 27 loại khoáng sản khác nhau được phân bố ở các huyện trong tỉnh. Trữ lượng, chất lượng của từng loại khoáng sản được đánh giá như sau:
* Mỏ kim loại:
- Sắt: Đã phát hiện 17 điểm mỏ quặng với tổng trữ lượng dự báo khoảng 7 triệu tấn. Một vài điểm quặng có trữ lượng đáng kể như điểm Phúc Ninh, điểm Tân Tiến, điểm Cây Nhãn (huyện Yên Sơn), trữ lượng lần lượt khoảng 2,4 triệu tấn, 2,2 triệu tấn và 0,5 triệu tấn; điểm Cây Vầu (huyện Hàm Yên) trữ lượng lkhoảng 1,5 triệu tấn
- Thiếc: Đã phát hiện 12 điểm có quặng, tập trung ở huyện Sơn Dương. Tổng trữ lượng cả quặng gốc và quặng sa khoáng đạt xấp xỉ 28.239 tấn SnO2.
- Mangan: Có 8 điểm mỏ tập trung chủ yếu ở huyện Chiêm Hoá (7 điểm) và huyện Na Hang (1 điểm). Đã có 2 điểm được thăm dò là Nà Pết, Phiêng Lăng (huyện Chiêm Hoá) với trữ lượng dự báo khoảng trên 2,416 triệu tấn.
- Chì - kẽm: Có 24 điểm mỏ, tập trung ở thị xã Tuyên Quang, huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hoá và Na Hang. Mới có 6 điểm mỏ được đánh giá trữ lượng ở cấp C2 = 195.927 tấn Pb+Zn. Hàm lượng Pb<10%; Zn<30%. Tổng trữ lượng cả cấp dự báo là 1.590.000 tấn chì - kẽm kim loại. Quặng kẽm dùng để luyện ô xít kẽm ZnO phục vụ công nghệ hoá chất, công nghệ nhẹ và y tế và luyện kẽm kim loại.
- Angtimoan: Đã phát hiện 15 điểm, trong đó Chiêm Hoá có 10 điểm, Na Hang 4 điểm, Yên Sơn 1 điểm. Có 4 điểm là Khuôn Phục, Hoà Phú, Làng Vài, Cốc Táy (Chiêm Hoá) đã được thăm dò với trữ lượng khoảng 1,2 triệu tấn.
* Mỏ không kim loại:
- Barit: Đã phát hiện 24 điểm quặng thuộc các huyện Sơn Dương, Yên Sơn và Chiêm Hoá. Các điểm thăm dò gồm: Ao Sen, Hang Lương, Thiện Kế, Ngòi Thia, Đùng Bùng (Sơn Dương); Làng Chanh, Xóm Hoắc, Xóm Húc (Yên Sơn) và Hạ Vị (Chiêm Hoá), có trữ lượng trên 2 triệu tấn và hầu hết là mỏ lộ thiên, điều kiện khai thác khá thuận lợi. Đây là loại khoáng sản có tiềm năng và ý nghĩa xuất khẩu lớn đối với nền kinh tế của Tuyên Quang.
- Đá vôi xây dựng: Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có rất nhiều điểm mỏ đá vôi đạt chất lượng tốt trong xây dựng. Theo tài liệu địa chất đánh giá tại 9 điểm mỏ đá vôi (Yên Lĩnh – Tràng Đa; Đa Năng: Cam Bon - Đầu Đẳng; Bắc Làng Mai…) có tổng trữ lượng cấp P2: 783 triệu m3, chất lượng tốt, trữ lượng tập trung, cho khả năng sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng quy mô lớn và tại chỗ.
- Cao lanh – fenspat: Có nhiều điểm rải rác như Hào Phú, Vân Sơn (Sơn Dương), Nghiêm Sơn (Yên Sơn). Lớn nhất là điểm mỏ Đồng Gianh (Sơn Dương) có 11 thân quặng với trữ lượng dự báo khoảng 5 triệu tấn. Điểm mỏ cao lanh Hào Phú (Sơn Dương) trữ lượng dự báo 1,411 triệu tấn. Điểm mỏ cao lanh Thái Sơn (Hàm Yên) trữ lượng dự báo 1,075 triệu tấn.
- Nước khoáng – nước nóng: Có 2 điểm đáng chú ý là Bình Ca và Mỹ Lâm. Trong đó mỏ nước khoáng Mỹ Lâm có trữ lượng nước khoáng là là 1.474 m3/ngày cấp B+C1+C2, trong đó cấp B: 492 m3/ngày; cấp C2: 248 m3/ngày.
Ngoài các loại khoáng sản trên, Tuyên Quang còn có nhiều loại khoáng sản khác như vônfram, pirit, kẽm, chì, đất sét, vàng, cát sổi,…có trữ lượng không nhiều, nằm rải rác cũng là tiềm năng để phát triển các điểm công nghiệp gắn với vùng nguyên liệu.
3. Du lịch, di tích lịch sử:
Tuyên Quang có 386 điểm di tích lịch sử đã được Nhà nước công nhận, tập trung nhiều ở Sơn Dương, thị xã Tuyên Quang, Yên Sơn, Chiêm Hoá. Tiềm năng du lịch có triển vọng phát triển loại hình du lịch sinh thái kết hợp du lịch lịch sử, văn hoá như: khu di tích lịch sử Tân Trào-ATK, Kim Bình, khu du lịch điều dưỡng suối khoáng Mỹ Lâm, Ngòi Là, Núi Dùm, Hang Tiên, Thác Trung Hà, Thác Mơ… Trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục thực hiện Quy hoạch tổng thể du lịch tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 theo phương án 3 khu du lịch (Khu du lịch lịch sử văn hoá, khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm, khu du lịch sinh thái) và 6 điểm du lịch chủ yếu (điểm du lịch lịch sử Tân Trào - ATK, điểm du lịch suối khoáng Mỹ Lâm, điểm du lịch sinh thái Na Hang, điểm du lịch lịch sử, văn hoá thị xã Tuyên Quang, điểm du lịch lịch sử và sinh thái Chiêm Hoá, điểm du lịch sinh thái Hàm Yên). Hoàn thành quy hoạch chi tiết Khu du lịch lịch sử cách mạng Tân Trào - ATK, huy động vốn đầu tư phát triển du lịch lịch sử Tân Trào trở thành “Điểm du lịch Quốc gia”; xác định điểm du lịch suối khoáng Mỹ Lâm là điểm đột phá của du lịch Tuyên Quang. Phát triển đồng bộ hệ thống dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
IV. Tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tuyên Quang
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 13, trong những năm qua nền kinh tế tỉnh Tuyên Quang tanưg trưởng khá qua các năm; từng bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường. Hình thành các khu công nghiệp, các điểm dịch vụ, thu hút các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư các dự án công nghiệp.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân hàng năm trên 10,9%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp.
Năm 2005, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng: 30,7%
tỷ trọng dịch vụ: 33,6%
tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp: 35,7%.
Tỉnh Tuyên Quang đang tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, gắn với kế hoạch 5 năm 2006-2010:
- Uỷ ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt đề cương quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020; phối hợp với Viện chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020.
- Thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 và Quy hoạch tổng thể du lịch tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Tiến hành quy hoạch chi tiết các khu, điểm du lịch theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang. Hoàn thành quy hoạch tổng thể khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm.
- Điều chỉnh quy hoạch thị xã Tuyên Quang đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020 theo hướng nâng cấp lên thành phố; quy hoạch các thị tứ, trung tâm cụm xã…
- Hoàn thành quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010; tiếp tục lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã.
- Tiếp tục triển khai quy hoạch tổng thể mạng lưới giao thông tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020. Đã phối hợp với Cục đường sắt Việt Nam hoàn thành quy hoạch chi tiết tuyến đường sắt Thái Nguyên - Tuyên Quang - Yên Bái; hoàn thành xây dựng cầu và đường dẫn cầu Thác Dẫng, cầu Tràng Đà, cầu Yên Lĩnh, cầu Nà Lừa, Quốc lộ 2C đoạn Sơn Dương - Tân Trào; nâng cấp tỉnh lộ ĐT 185 (Tân Long - Kim Bình). -- Tiếp tục thi công Quốc lộ 37 (đoạn Bình Thuận - Suối khoáng Mỹ Lâm), Quốc lộ 2 (đoạn tránh thị xã Tuyên Quang) và cầu An Hoà; hoàn thành quy hoạch các trung tâm cụm xã.
- Quy hoạch chi tiết Khu công nghiệp Long Bình An số 2 thuộc cụm các Khu công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị Long Bình An, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quy hoạch chi tiết các khu tái định cư để giải phóng mặt bằng xây dựng Khu công nghiệp Long Bình An số 2 và khu tái định cư để giải phóng mặt bằng xây dựng nhà máy giấy An Hoà.
V. Định hướng phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020
- Đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm trên 14%. Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm đặc biệt là chăn nuôi bò sữa, bò thịt cao sản gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng để có giá trị kinh tế cao; đổi mới công nghệ chế biến nâng cao chất lượng sản phẩm trong nông nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
- Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư, tạo môi trường thông thoáng và thuận lợi thu hút các nguồn lực để đầu tư, phát triển kinh tế. Phát huy hiệu quả nội lực, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển. Triển khai thực hiện các dự án phát triển công nghiệp, các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội.

tunguyenba
19-08-2006, 12:30 PM
B. Cơ chế thu hút đầu tư
(Theo Quyết định số 56/2005/QĐ - UBND ngày 08/7/2005 của UBND tỉnh Tuyên Quang Về việc ban hành Quy định chính sách khuyến khích đầu tư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang):
*Những ngành, nghề, lĩnh vực khuyến khích đầu tư:
1. Phát triển các ngành công nghiệp chế biến, bảo quản nông, lâm sản, thuỷ sản; trồng rừng, nuôi trồng thuỷ sản; luyện phôi thép, kẽm kim loại, chì kim loại;
2. Đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn như: xây dựng cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, dệt may, cơ khí, xử lý - chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn;
3. Xây dựng các khu du lịch;
4. Đầu tư phát triển công nghệ thông tin;
5. Xây dựng hoàn chỉnh khu đô thị, khu thương mại, khu dân cư tập trung;
6. Đầu tư thành lập mới các cơ sở giáo dục đào tạo và dạy nghề;
7. Đầu tư thành lập mới bệnh viện tư nhân.
* Chính sách
- Ưu đãi về giá thuê đất: Đối với các dự án thuộc lĩnh vực ngành, nghề, lĩnh vực khuyến khích đầu tư được giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định hiện hành của Uỷ ban nhân dân tỉnh; được Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.
Hỗ trợ tiền bồi thường về đất:
1. Tỉnh chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác thu hồi, giải phóng mặt bằng và giao đất cho nhà đầu tư thực hiện dự án;
2. Dự án đầu tư tại Khu công nghiệp trong Cụm các khu công nghiệp - dịch vụ - đô thị Long Bình An và Khu Du lịch suối khoáng Mỹ Lâm được tỉnh hỗ trợ tối đa 50% tổng số chi phí bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định hiện hành của Uỷ ban nhân dân tỉnh, mức hỗ trợ không vượt quá 02 tỷ đồng cho một dự án.
3. Dự án đầu tư sản xuất tại địa bàn các huyện Na Hang và Chiêm Hoá, được ngân sách tỉnh hỗ trợ 100% tổng chi phí bồi thường, hỗ trợ về đất theo chính sách hiện hành của Uỷ ban nhân dân tỉnh, mức hỗ trợ không vượt quá 01 tỷ đồng cho một dự án;
4. Đối với địa bàn còn lại căn cứ quy mô và tính chất quan trọng, cần thiết của dự án tỉnh hỗ trợ một phần chi phí bồi thường về đất như sau:
a. Hỗ trợ 15%, đối với dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp, điểm công nghiệp theo quy hoạch;
b. Hỗ trợ 25%, đối với dự án chế biến nông, lâm sản, thuỷ sản, trồng rừng, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển ngành nghề nông thôn.Mức hỗ trợ nêu tại các mục a và b không vượt quá 500 triệu đồng Việt Nam/Dự án. Trường hợp dự án đáp ứng được nhiều điều kiện thì chỉ được hưởng ưu đãi của điều kiện có mức ưu đãi cao nhất.
- Xây dựng hạ tầng cơ sở: Đối với các dự án đầu tư vào Khu, cụm công nghiệp và Khu Du lịch suối khoáng Mỹ Lâm theo quy hoạch: Tỉnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng gồm đường giao thông, hệ thống cấp điện, cấp, thoát nước, thông tin liên lạc đến hàng rào của Khu, Cụm công nghiệp và Khu Du lịch suối khoáng Mỹ Lâm.
- Hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho lao động địa phương: Nhà đầu tư tuyển chọn sử dụng lao động tại địa phương; tổ chức đào tạo lao động địa phương có tay nghề thành thạo để bố trí làm việc trong dây chuyền sản xuất chính của dự án; được ngân sách tỉnh hỗ trợ một lần để đào tạo nghề trong nước, mức hỗ trợ tối đa 50% tổng kinh phí đào tạo và không quá 300.000 đồng/người/tháng và không quá 1.500.000 đồng/người/khoá học nghề.
- Ưu đãi về thông tin quảng cáo: Các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn tỉnh Tuyên Quang được giảm 70% chi phí thông tin quảng cáo trên Đài phát thanh và truyền hình Tuyên Quang và Báo Tuyên Quang, thời gian 01 năm kể từ khi dự án đi vào hoạt động, phục vụ cho mục đích kêu gọi, thu hút đầu tư cho tỉnh và tiếp thị sản phẩm.
* Cơ chế thực hiện:
Nhà đầu tư đến với Tuyên Quang sẽ được làm việc trong một môi trường thuận lợi và thông thoáng. Tuyên Quang thực hiện các thủ tục đầu tư, quản lý hoạt động thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang theo cơ chế "một cửa, một đầu mối'' đảm bảo giải quyết các thủ tục cho nhà đầu tư trong thời gian ngắn nhất:
1. Thời gian cấp Giấy phép đầu tư cho các dự án đầu tư nước ngoài thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân tỉnh:- Trong thời hạn 5 ngày sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định và cấp giấy phép đầu tư đối với dự án thuộc diện Đăng ký cấp giấy phép đầu tư;
- Trong thời hạn 10 ngày sau khi nhận đủ Hồ sơ hợp lệ Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định và cấp giấy phép đầu tư đối với dự án thuộc diện Thẩm định cấp giấy phép đầu tư.
2. Thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư:
- Thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp (thành lập mới, mở chi nhánh Văn phòng đại diện tại Tuyên Quang 05 ngày (kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ).
- Thời gian cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp 10 ngày làm việc (kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ).
Triển khai dự án: Từ khi dự án được cấp giấy phép đầu tư, tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ các cơ quan chức năng của tỉnh phải hoàn thành:
- Thực hiện giải phóng mặt bằng và giao đất cho nhà đầu tư trong thời gian 60 ngày; đối với những dự án phải di chuyển từ 50 hộ trở lên, thì thời gian tối đa không quá 6 tháng sau khi có quyết định thu hồi đất;
- 10 ngày hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kể cả từ khâu đo đạc, lập bản đồ địa chính tại các địa điểm đã giải phóng xong mặt bằng;
- 10 ngày hoàn thành thủ tục xây dựng;
- 10 ngày hoàn thành việc cấp mã số thuế;
- 01 ngày hoàn thành việc khắc con dấu.Để khai thác tốt tiềm năng và thế mạnh của tỉnh, Tuyên Quang rất mong nhận được sự quan tâm, hợp tác và đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, giúp Tuyên Quang phát triển ngày một giàu đẹp và văn minh hơn trên tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá của cả nước.

Quang Thắng
22-08-2006, 02:20 PM
Hi, kinh quá nhỉ, viết về Tuyên Quang chi tiết quá. Bạn cũng đang có một số tài liệu về Tuyên Quang đấy, hôm nào bạn tập hợp và attach qua mail cho nhé !
:D

hieu3U
02-11-2006, 05:46 PM
anh Tú về TQ lập công ty đi nhé.
Sau này cho xin chân trong Hội đồng quản trị. hehe

Phương Đông
09-02-2008, 06:06 PM
mình đang làm đề tài về Tuyên Quang nhưng mình nghĩ viết bài mang tính thông tin thì nên ghi rõ nguồn số liệu lấy từ tài liệu nào. Như vậy là bạn đã giúp cho mình cũng như rất nhiều người có thể dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm thông tin. Thanks

aloha_1412
27-04-2008, 05:32 PM
Chào các bác, em là một con gà mạng ạ. Vì vậy nên rất rất là cảm ơn bác Nguyễn Bá Tú (đấy là em đoán thế) đã giúp em một cách gián tiếp hoàn thành bài kiểm tra. Dạ, cảm ơn bác ạ.

hoanghiepfood
02-11-2008, 09:47 AM
Xin lỗi các bạn nhé. Tôi thấy chính sách của tỉnh ta viết ra thì rất hay đó, nhưng khi đi vào thực tế thì mệt lắm. Hết thủ tục này đến thủ tục lọ, hết ban ngành này đến ban ngành khác...nhưng vẫn chẳng được việc.
Mà nhất là cơ sở hạ tầng của Tuyên Quang mình quá kém, nên rất khó thu hút được các nhà đầu tư. Từ đường xá, thông tin liên lạc, điện ...Nhất là cái ông EVN của tỉnh, chán ngắt. Cắt điện hoài như vậy thì ai mà giám đầu tư có chứ, cắt điện chẳng có kế hoạch cũng chẳng có báo trước gì cả, khi gọi điện hỏi thì trả lời rất " vô lễ " , có khi không thèm nghe máy. Buồn, buồn lắm Tuyên Quang ạ.

matnautq1981
24-02-2009, 09:00 PM
em đang làm đề tài về thủ công nghiệp tỉnh Tuyên Quang, các bác giúp em tìm tài liệu với, bí quá.cảm ơn trước nha.

matnautq1981
24-02-2009, 09:01 PM
làm thế nào để copy đc bài của các bác về xem đây?

matnautq1981
24-02-2009, 09:06 PM
dc rùi các bác a.làm ơn giúp em những tài liệu về tình hình thủ công nghiệp Tuyên Quang nha.em chuẩn bị bảo vệ đề cương rùi.hic hic

gabong.vn
13-11-2010, 07:55 PM
cho tớ lên TQ xin việc với.......................

congdon
19-02-2011, 11:18 AM
cho tớ lên TQ xin việc với.......................

mới có 18 việc gì hả em :P
anh còn chưa có ý ;))

mrgiang 1990
19-02-2011, 12:34 PM
TQ lắm tiềm năng nhưng việc sử dung làm đòn bẩy kinh tế thì chưa có hiểu quả nhiều lắm! Thiên nhiên đã ưu đãi cho ta về khoàng sản song việc khai thác thiếu quy hoạch tràn lan và khai thac trộm diễn ra bt. Vâng chuyên ko phải mình nói cũng chẳng làm gì? Cảm ơn anh đã đưa lên bài viết về tiêm năng rất có ích cho học tâp nghiên cứu và các nhà đầu tư tìm hiểu......

congdon
20-02-2011, 01:11 PM
TQ lắm tiềm năng nhưng việc sử dung làm đòn bẩy kinh tế thì chưa có hiểu quả nhiều lắm! Thiên nhiên đã ưu đãi cho ta về khoàng sản song việc khai thác thiếu quy hoạch tràn lan và khai thac trộm diễn ra bt. Vâng chuyên ko phải mình nói cũng chẳng làm gì? Cảm ơn anh đã đưa lên bài viết về tiêm năng rất có ích cho học tâp nghiên cứu và các nhà đầu tư tìm hiểu......

vấn đề bạn nói là hiệu quả của đầu tư! thực tế thì hệ số ICOR càng ngày càng cao! haizzz

mrgiang 1990
20-02-2011, 03:57 PM
vấn đề bạn nói là hiệu quả của đầu tư! thực tế thì hệ số ICOR càng ngày càng cao! haizzz

Vẫn biết thưc tế hệ số có tăng, đàu từ phải phát triển ko thì đồng tiên vôn bỏ ra đổ xuống sông cũng phải dạt vào bờ chứ. Nhưng hiểu quả chưa đi đôi chất lượng! 8->

congdon
20-02-2011, 04:20 PM
vâng! hệ số của VN bây h là hơn 8,không biết của riêng TQ là bao nhiêu
càng tăng thì càng chứng tỏ nền kinh tế đầu tư kém hiệu quả :">

mrgiang 1990
20-02-2011, 04:33 PM
kém song cũng có khá nhiều hiểu quả vf đang trong tình trạng dang dở mà? Mình thấy có vài dự án khả quan như xây dựng nhà máy sơ chế bột giấy ở NHang vừa rồi? vv

hoanghiepfood
25-08-2011, 02:34 PM
Hello...hề...lô..
Lâu lắm rồi mới lại vào tuyenquangonline thấy mọi người vui vẻ nghê. Có những chủ để từ 2006 đến giờ vẫn chưa đóng và vẫn bàn tán.

hoanghiepfood
25-08-2011, 02:53 PM
cho tớ lên TQ xin việc với.......................

Ôi !!! Em gái Tuyên Quang mình xinh quá...:-bd

Lừa ngố
25-08-2011, 03:40 PM
Không biết sau này thế nào nhưng tớ vẫn quyết tâm trở về với Tuyên Quang thân yêu
Đố ai ngăn cản được tớ đấy ;;)

22111979
25-08-2011, 03:59 PM
Không biết sau này thế nào nhưng tớ vẫn quyết tâm trở về với Tuyên Quang thân yêu
Đố ai ngăn cản được tớ đấy ;;)

Tuyên quang đẹp và thơ như thế ai mà chả muốn về? Nếu có một điều ước nho nhỏ thì mình ước sẽ được làm việc những công việc mình yêu thích chính trên mảnh đất TQ này.Cống hiến sức nhỏ mọn để TQ ngày càng đẹp

tq_miennui_9x
26-08-2011, 10:52 PM
Xin lỗi các bạn nhé. Tôi thấy chính sách của tỉnh ta viết ra thì rất hay đó, nhưng khi đi vào thực tế thì mệt lắm. Hết thủ tục này đến thủ tục lọ, hết ban ngành này đến ban ngành khác...nhưng vẫn chẳng được việc.
Mà nhất là cơ sở hạ tầng của Tuyên Quang mình quá kém, nên rất khó thu hút được các nhà đầu tư. Từ đường xá, thông tin liên lạc, điện ...Nhất là cái ông EVN của tỉnh, chán ngắt. Cắt điện hoài như vậy thì ai mà giám đầu tư có chứ, cắt điện chẳng có kế hoạch cũng chẳng có báo trước gì cả, khi gọi điện hỏi thì trả lời rất " vô lễ " , có khi không thèm nghe máy. Buồn, buồn lắm Tuyên Quang ạ.

Đúng Vậy.Đó chỉ là trên giất tờ thôi chứ ở vung quê thì vẫn còn nghèo khổ lắm, mức độ giầu nghèo còn khá cao mình có thể nhận thấy đc qua cuôc sống tại nơi mình ở.