PDA

View Full Version : Mỹ từng âm mưu sử dụng vũ khí nguyên tử tại Việt Nam


Mạnh Tùng
18-04-2008, 12:51 PM
- Trong cuộc chiến tranh VN, không quân Mỹ từng cân nhắc kế hoạch sử dụng vũ khí nguyên tử tấn công các mục tiêu của miền Bắc VN vào các năm 1959 và 1968. Đó là thông tin chấn động mà những tài liệu quân sự Mỹ vừa được giải mật tiết lộ.

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=255681

Bản báo cáo "Không lực Mỹ tại Đông Nam Á: Tiến tới ngừng ném bom, 1968" do tác giả Jacob Van Staaveren, thuộc Văn phòng lịch sử không quân, viết năm 1970 đã hé lộ bối cảnh cuộc chiến đầu năm 1968 khi phía Mỹ lần thứ hai tính đến phương án hạt nhân tại VN.

Đầu năm 1968, liên quân (Mỹ và chính quyền Sài Gòn) vẫn sở hữu sức mạnh quân sự vượt trội so với miền Bắc VN với 1.300.000 lính và sĩ quan. Ngoài ra còn có 60.300 lính liên quân, chủ yếu là Hàn Quốc. Không lực liên quân bao gồm hơn 1.000 máy bay chiến đấu... Ngoài ra còn có 1.440 máy bay phục vụ vận tải, kiểm soát không lưu, do thám, điện tử và các nhiệm vụ hỗ trợ khác...

Chống lại lực lượng liên quân là khoảng 200.000 bộ đội miền Bắc VN. Vào năm 1967, quân miền Bắc VN bị thiệt hại 55.500 người do các chiến dịch tấn công từ trên không và mặt đất của liên quân. Các cuộc không kích cũng gây khó khăn cho Hà Nội trong việc duy trì nhiều máy bay. Vào cuối năm 1967 chỉ có 10 chiếc MIG-15 và tám chiếc MIG-21 ở Bắc VN, 60 máy bay tại các căn cứ Trung Quốc gần đó.

Khủng hoảng quân sự từ tháng 1-3

Mỹ muốn đánh bom nguyên tử cả VN và Lào

Theo báo cáo "Không lực Mỹ tại Đông Nam Á: Cuộc chiến Bắc Lào 1954-1973" của Trung tâm Lịch sử không quân, năm 1959, tham mưu trưởng không lực Mỹ Thomas D. White đã chọn một số mục tiêu tại miền Bắc VN để thực hiện tấn công nguyên tử. Tuy nhiên, các quan chức quân đội khác đã ngăn cản ý định của tướng White. Vài tháng sau, đề xuất này bị rút lại. Năm 1961, phía Mỹ cũng có kế hoạch tấn công Lào với 60.000 binh sĩ, với sự hỗ trợ của không quân và vũ khí nguyên tử.

Tác giả các báo cáo nhận định "sử dụng vũ khí nguyên tử để tấn công quân du kích và nguồn tiếp tế" tại VN hoặc Lào "không phải là một ý tưởng tốt". Báo cáo viết: "Không thể rõ liệu những mục tiêu thích hợp cho các loại vũ khí như vậy có tồn tại trong vùng rừng núi Bắc Lào hoặc Bắc VN. Quan trọng hơn, một cuộc tấn công bằng vũ khí nguyên tử sẽ trao cho phía Bắc VN thắng lợi lớn về mặt tuyên truyền, và có thể làm cuộc chiến lan sang Trung Quốc và cả khu vực Tây Thái Bình Dương".

Lợi thế trên chiến trường nghiêng hẳn về phía liên quân, và rõ ràng đã góp phần tạo ra một sự lạc quan (trong giới quân sự Mỹ và Sài Gòn) về cuộc chiến tranh vào đầu năm 1968. Tuy nhiên, cảm giác lạc quan này nhanh chóng tan đi vào cuối tháng 1-1968 do hàng loạt sự kiện bất ngờ tại VN và Hàn Quốc. Vào ngày 21-1, một nhóm 31 đặc nhiệm CHDCND Triều Tiên thâm nhập Hàn Quốc với mục tiêu ám sát tổng thống Park Chung Hee. Hai ngày sau quân Bắc Hàn bắt giữ tàu tình báo Mỹ Pueblo bên ngoài bờ biển của họ.

Tại miền Nam VN, cũng thời gian này, quân Bắc Việt bao vây căn cứ thủy quân lục chiến Mỹ tại Khe Sanh, không xa biên giới Lào và vùng phi quân sự (DMZ). Trong vòng 77 ngày quân miền Bắc VN vây hãm 6.000 lính thủy đánh bộ Mỹ và một tiểu đoàn biệt kích Nam VN, trong khi tại Mỹ giới quân sự lo ngại miền Bắc VN muốn tạo ra một chiến thắng Điện Biên Phủ khác. Cho dù bộ đội Bắc Việt bị thương vong đáng kể, họ vẫn tiếp tục vây hãm căn cứ Khe Sanh, thường xuyên nã pháo vào căn cứ này trong khi không quân Mỹ cứ tiếp tục đưa thêm lính thủy đánh bộ đến đây.

Chiến dịch quan trọng nhất của miền Bắc VN bắt đầu vào những giờ đầu tiên ngày 30-1. Quân đội Bắc VN phát động cuộc tấn công Tết Mậu Thân kéo dài một tháng, tấn công Sài Gòn, nhiều thành phố khác và hàng loạt căn cứ cũng như sân bay của quân đội Mỹ và Sài Gòn. Tiếng vang của những cuộc tấn công đồng loạt này có tác động sâu sắc tại miền Nam VN.

Không lực tại Khe Sanh

Cho dù giả thuyết của tổng thống (Lyndon Johnson) có đúng hay không thì thực tế là quân Bắc Việt "cứng đầu" đang chuẩn bị một cuộc tấn công lớn vào Khe Sanh. Mặc cho nhiều ý kiến đề xuất việc từ bỏ căn cứ quân sự này, nhưng tướng William Westmoreland (chỉ huy quân đội Mỹ tại miền Nam VN), Bộ tổng tham mưu, và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara đồng ý rằng cần phải giữ vững căn cứ này vì các nguyên nhân chính trị và chiến lược.

Tướng Westmoreland gọi Khe Sanh là "mỏ neo của toàn bộ thế phòng ngự của chúng ta tại khu vực phía bắc miền Nam VN", và cho rằng bảo vệ căn cứ này sẽ ngăn cản quân Bắc VN tấn công những nơi khác. Do Mỹ có sức mạnh quân sự vượt trội để giữ căn cứ, nhiều quan chức quân đội nhìn thấy những "cơ hội có thể khai thác" để ra một cú đòn "khốc liệt" và "nốc ao" đối với quân Bắc Việt.

Để xác định lực lượng quân Bắc Việt trong vùng, và phát hiện các mục tiêu cho máy bay ném bom B-52, vào giữa tháng 1-1968 tướng Westmoreland đã tổ chức một chiến dịch tìm kiếm trên diện rộng trên bộ và trên không, có tên là Niagara I. Vào ngày 22-1, sau khi quân Bắc Việt vây hãm Khe Sanh, Bộ chỉ huy viện trợ quân sự VN (MACV) bắt đầu chiến dịch Niagara II, cuộc không kích lớn nhất trong cuộc chiến. Toàn bộ máy bay không quân, hải quân, và thủy quân lục chiến, máy bay B-52 và pháo binh thủy quân lục chiến được huy động để bảo vệ Khe Sanh.

Vũ khí nguyên tử hoặc hóa học

Bất chấp sự tự tin của quan chức quân đội rằng có thể bảo vệ căn cứ quân sự Khe Sanh, sự lo lắng vẫn lơ lửng tại Washington. Vào cuối tháng 1-1968, tướng Westmoreland cảnh báo nếu tình hình tại khu phi quân sự và Khe Sanh trở nên xấu đi, quân Mỹ cần phải sử dụng vũ khí nguyên tử hoặc hóa học.

Sau đề xuất của tướng Westmoreland, tướng John P.McConnell (người đứng đầu không quân Mỹ) gây sức ép buộc Bộ tổng tham mưu Mỹ yêu cầu liên quân Thái Bình Dương (Pacific Command) chuẩn bị một kế hoạch sử dụng vũ khí nguyên tử nhỏ để ngăn chặn một thất bại mang tính thảm họa đối với căn cứ Khe Sanh. Tuy nhiên, hành động gây sức ép của tướng McConnell đã không thành công.

Tại Nhà Trắng, tổng thống (Johnson) tuyên bố rõ rằng ông ta không muốn một thất bại như trận thua của Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954. Trả lời chất vấn của tổng thống, tướng Wheeler trấn an tổng thống rằng tình thế quân sự của Khe Sanh khác với Điện Biên Phủ ở ba khía cạnh: Mỹ có thiết bị tình báo tốt hơn, nhiều máy bay tấn công, máy bay ném bom B-52; có lực lượng pháo binh hỗ trợ tại phía đông vùng núi; công nghệ cung ứng, di tản, y tế tốt hơn...

Tuy nhiên, nỗi lo ngại (từ phía Mỹ) lại gia tăng khi lực lượng miền Bắc VN chiếm được trại lực lượng đặc biệt ở Làng Vei gần Khe Sanh vào ngày 6 và 7-2. Thất bại này, cộng với hàng loạt thất bại khác do miền Bắc VN gây ra trong chiến dịch Tết Mậu Thân đã khiến Quốc hội (Mỹ) yêu cầu điều tra về cuộc chiến, làm dấy lên làn sóng chỉ trích từ phía báo chí, và khiến các quan chức chỉ huy tại Sài Gòn yêu cầu tăng cường lực lượng từ Mỹ...

HIẾU TRUNG (trích dịch)

Trần Toàn Trung
18-04-2008, 01:13 PM
May mà nó không dùng đấy nhỉ , chứ nếu không lại thành 1 Nhật Bản thứ 2 à ? nguyên cái vụ chất độc da cam còn lo hoài mà vẫn chưa xong , nếu có di chứng của hạt nhân nữa thì chắc là VN ốm đói thêm 100 nữa mất

Mạnh Tùng
18-04-2008, 01:33 PM
Nếu có bom hạt nhân vào các thành phố chính của miền bắc thì chắc mình thất thủ luôn rồi .

Chỉ 5 quả vào hà nội,hải phòng, nam định , vinh, thai nguyên thì toàn bộ nền công nghiệp cảu mình coi như đi tong ko còn sức phản kháng lúc đó QLVNCH nó bắc tiến như đi trên đồng trống vậy . thì bi h thủ đô là Huế hoặc Xì gòn thôi chứ không phải hà nội .
Sau khi ăn 5 quả bom như vậy chắc mĩ nó lại đổ tiền vào phục hồi việt nam để kiềm chế trung quốc , đặc biệt là miền bắc chắc là có quân mĩ đóng ở sơn tây ấy nhỉ ? :D:D:D <<< kinh tế chắc là phát triển hơn hiện nay , nhưng văn hóa thì hủy bại hơn hiện nay nữa . :D

22_027
22-04-2008, 01:50 PM
http://img175.imageshack.us/img175/243/22027hli7.jpg
Quân đội Mỹ ở Việt Nam.

Theo những tài liệu mật mới được công bố gần đây, Lực lượng Không quân Mỹ đã từng muốn sử dụng các loại vũ khí hạt nhân để đánh Việt Nam năm 1959 và năm 1968, và đánh Lào năm 1961 nhằm xoá sạch những đội quân du kích cộng sản ở 2 chiến trường này.

Năm 1959, Tư lệnh lực lượng Không quân Mỹ - Tướng Thomas D White đã chọn nhiều mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam để tấn công bằng vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, các quan chức quân đội khác của Mỹ đã ngăn chặn yêu cầu dùng vũ khí huỷ diệt hàng loạt của Tướng White đối với quốc gia Đông Nam Á này.

"White muốn làm tê liệt quân nổi dậy cũng như các đường dây cung cấp hậu cần cho đội quân trên bằng cách tấn công vào những mục tiêu đã được lựa chọn ở miền Bắc Việt Nam hoặc với vũ khí thông thường hoặc với vũ khí hạt nhân," một tài liệu mật của Không lực Mỹ đã tiết lộ như vậy.

"Mặc dù văn bản của White kêu gọi cho miền Bắc Việt Nam một lời cảnh báo trước cuộc tấn công nhưng các quan chức khác trong quân đội đã trì hoãn kế hoạch này, rất có thể là do nó bao gồm cả việc sử dụng vũ khí hạt nhân. 7 tháng sau, lời đề nghị của tướng White được rút lại," tài liệu trên cho hay.

Bộ tài liệu dày 400 trang có nhan đề: "Không lực Hoa Kỳ ở Đông Nam Á: Cuộc chiến bắc Lào năm 1954-1973," đã được Trung tâm lịch sử Không quân Mỹ ở Washinton soạn thảo năm 1993 và được "phân loại vào tài liệu mật".

Hôm 9/4, tài liệu trên đã được Kho lưu trữ an ninh quốc gia Mỹ ở Washinton cho công bố cùng với nhiều tài liệu mật khác của không quân thời chiến tranh. Sở dĩ có viêc này là do Mỹ đang thực hiện Đạo luật tự do thông tin mở rộng. Kho lưu trữ an ninh quốc gia là một viện nghiên cứu độc lập và phi chính phủ của Trường Đại học George Washington.

Tướng White "đã yêu cầu Tham mưu trưởng liên quân bật đèn xanh cho việc cử một phi đội máy bay ném bom B-47 đến căn cứ không quân Clark ở Philippines" để chuẩn bị cho một cuộc tấn công vào gần Việt Nam, tài liệu mật cho biết. Yêu cầu của Tướng White trong việc mở kho vũ khí hạt nhân của Mỹ có thể là do được khích lệ từ một nghiên cứu của không quân có tên: "Vũ khí nguyên tử trong những cuộc chiến tranh giới hạn ở Đông Nam Á," tài liệu trên cho hay.

Theo phần chú thích của tài liệu về chiến lược của Tướng White, nghiên cứu trên "tập trung vào việc sử dụng vũ khí hạt nhân nhằm 'kiểm soát tình hình' ở những khu vực rừng rậm, những tuyến đường tiếp tế ở thung lũng, những khu vực đá vôi và những hẻm núi với mục đích ngăn chặn sự hoạt động của kẻ thù cũng như xoá bỏ đi những lớp vỏ bọc che chắn." Những loại địa hình kể trên chủ yếu tập trung ở Việt Nam và Lào.

Một năm sau, trong suốt khoảng thời gian từ tháng 12/1960 đến tháng 1/1961, máy bay của Liên Xô đã chuyên chở "lương thực, nhiên liệu và vũ khí" cho các lực lượng ủng hộ Moscow ở Lào, thông qua Hà Nội, tài liệu mật trên viết. Trong tháng 3/1961, Tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã "chống lại một kế hoạch triệu tập 60.000 binh sĩ với sự hậu thuẫn của không quân và vũ khí hạt nhân".

"Việc quân đội Mỹ tính đến cả việc dùng vũ khí hạt nhân là một di sản có từ thời chiến tranh Triều Tiên. Đối với Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, đó là một điều không thể tưởng tượng được khi Mỹ lại lao vào một cuộc chiến tranh thông thường và phí sức khác," tài liệu mật ghi lại.

Năm 1968, chỉ ngay trước khi xảy ra cuộc Tổng tiến công Tết Mậu thân, quân đội miền Bắc Việt Nam và các đồng minh Việt Cộng ở phương Nam đã tấn công vào các lực lượng Mỹ ở miền trung đất nước, nơi Mỹ đang chiếm đóng nhằm chia cắt Việt Nam. Đáp lại, Tướng William Westmoreland, chỉ huy các lực lượng Mỹ ở Việt Nam, đã tiến tới gần việc ấn nút vũ khí hạt nhân.

"Cuối tháng 1, Tướng Westmoreland đã cảnh báo rằng nếu tình hình gần khu vực phi quân sự hoá (DMZ) và tại Khe Sanh xấu đi một cách trầm trọng thì sức mạnh hoá học và hạt nhân có thể được sử dụng đến." Đó là thông tin được tiết lộ trong một tài liệu dài 106 trang "tối mật" khác mới được công bố. Tài liệu này có tên: "Không lực Mỹ ở Đông Nam Á: Hướng tới một kế hoạch ngừng đánh bom, 1968," do Văn phòng Lịch sử không quân viết lại năm 1970.

"Vấn đề trên đã khiến Tư lệnh không quân Mỹ - Tướng John P McConnell phải gây sức ép, dù không thành công, đối với Tham mưu trưởng liên quân để yêu cầu Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương chuẩn bị một kế hoạch dùng vũ khí hạt nhân công suất thấp nhằm ngăn chặn những mất mát thảm khốc của căn cứ Hải quân Mỹ," tài liệu này cho biết thêm.

Trong suốt phần lớn cuộc chiến tranh thất bại của Mỹ ở Đông Nam Á, Mỹ đã luôn dựa vào những cuộc ném bom hàng loạt, kể cả bom napan, vào Việt Nam, Lào và Campuchia nhưng không hề thả một quả bom nguyên tử nào xuống 3 nước này bất chấp việc Không quân Mỹ đã 3 lần nỗ lực thực hiện điều này. Sau khi Mỹ thất bại, lực lượng cộng sản đã giành được quyền kiểm soát được cả 3 nước trên năm 1975.

Mặc dù nhận thức muộn màng nhưng các tác giả của tài liệu mật của Không lực Mỹ năm 1993 đều cho rằng sẽ không phải là ý kiến hay khi "dùng vũ khí hạt nhân để tiêu diệt quân nổi dậy và các nguồn tiếp tế của các lực lượng này" ở Việt Nam và Lào.

"Người ta vẫn còn hoài nghi về việc liệu có bất kỳ mục tiêu thích hợp nào cho những cuộc tấn công hạt nhân ở các khu vực rừng rậm ở bắc Lào và bắc Việt Nam hay không," tài liệu trên cho hay. "Quan trọng hơn, một cuộc tấn công như thế có thể tạo cho lực lượng cộng sản một chiến thắng to lớn trên mặt trận tuyên truyền và có thể làm cuộc chiến tranh này lan sang tận Trung Quốc và Tây Thái Bình Dương," tài liệu trên nhận định.

Trung Quốc lúc đó đang ủng hộ quân du kích ở Việt Nam, Lào, Campuchia chống lại các cuộc tấn công của Mỹ. Những tài liệu mật này còn đề cập đến việc Mỹ có thể làm lây lan cuộc chiến tranh có thể là hạt nhân của nước này sang "Tây Thái Bình Dương", rõ ràng ám chỉ đến các nước như Philippines, Đài Loan, Nhật Bản Hàn Quốc và các hòn đảo gần đó - nơi Mỹ đang đặt các căn cứ quân sự.


Hải Yến - (Theo Asian Times, ScoopNewZealand)