Trần Thanh Tâm
28-01-2008, 06:28 PM
Chương 1. Những chương trình đầu tiên
Ta bắt đầu bằng việc phân tích một chương trình Pascal đơn giản:
1.Program VD_01_01;
2.Begin
3. Write('Xin chao tat ca cac ban.');
4. Readln;
5. {Chờ gõ Enter}
6.End.
Để thử nghiệm chương trình, bạn khởi động môi trường lập trình Turbo Pascal (xin xem tài liệu để biết chi tiết về sử dụng môi trường lập trình Turbo Pascal) rồi soạn thảo, dịch và chạy thử. Bạn chú ý không gõ số số dòng, đó là tác giả thêm vào để tiện giải thích hoạt động của chương trình.
Đây là một chương trình Pascal rất đơn giản, chỉ thực hiện mỗi một việc là in ra màn hình dòng chữ “Xin chào tất cả các bạn” rồi chờ người dùng (user) nhấn Enter. Tuy vậy chúng ta cũng nên phân tích nó:
Dòng 1 của chương khai báo tên của chương trình. Khai báo bắt đầu bằng từ khoá (keyword) Program và theo sau đó là một định danh (còn gọi đơn giản là tên - identifier) dùng để đặt cho chương trình. Chương trình trên được đặt tên là “VD_01_01”.
Khai báo Program thường là không cần thiết nên rất ít khi xuất hiện, bạn có thể bỏ qua trong các chương trình riêng của mình.
Dòng 2 và dòng 6 là 2 từ khoá “Begin End.” khai báo nội dung chương trình.
Dòng 3 là một câu lệnh của chương trình, write là tên chuẩn (tên đã được khai báo sẵn) trong Pascal dùng để đưa thông tin ra thiết bị ngoài. Trong chương trình này câu lệnh có ý nghĩa: viết ra màn hình dòng chữ “Xin chao tat ca cac ban”.
Dòng 4 là câu lệnh tiếp theo của chương trình, nó chỉ làm mỗi việc là chờ người dùng gõ Enter.
Dòng 5 là một dòng chú thích. Chú thích là những văn bản mà lập trình viên (programmer) thêm vào nhằm mục đích giúp người đọc chương trình dễ hiểu hơn. Chẳng hạn trong trường hợp này là giải thích ý nghĩa của dòng lệnh readln ở trên.
Chú thích được đặt giữa cặp ngoặc {} hay giữa cặp (* *). Chú thích giúp chương trình dễ hiểu hơn nhưng không làm tăng kích thước chương trình (vì Turbo Pascal không dịch phần văn bản được đánh dấu là chú thích. Vì thế đôi khi người ta đánh dấu chú thích phần chương trình còn sai để kiểm tra các phần khác mà không cần thiết phải xoá những đoạn chương trình ấy).
Sau quá trình phân tích chúng ta rút ra một số điều sau:
1- Từ khoá Program dùng để khai báo tên chương trình. Khai báo đó không nhất thiết phải có. Nếu có thì tên chương trình phải đặt theo các quy tắc đặt tên.
2- Nội dung chương trình nằm giữa cặp từ khóa Begin End. Chú ý có dấu chấm sau từ End.
3- Đơn vị cấu trúc nên nội dung chương trình là các câu lệnh. Đó có thể là cấu trúc điều khiển, lệnh gọi chương trình con hay lệnh gán trị (chúng ta sẽ nghiên cứu về chúng trong những phần sau). Mỗi lệnh đều kết thúc bằng dấu ;. Chương trình thực hiện các câu lệnh tuần tự từ đầu đến cuối.
3.1- Lệnh write có thể dùng để viết ra màn hình các câu thông báo. Chú ý câu thông báo đặt trong cặp dấu “nháy” trên (' '). Ví dụ 'This is Turbo Pascal'.
3.2- Lệnh readln; (đọc là read-line) sẽ chờ người dùng nhấn Enter rồi mới chạy tiếp.
4- Chú thích có thể thêm vào chương trình giúp chương trình dễ hiểu hơn. Chú thích nằm giữa cặp dấu { } hay giữa (* và *).
5- Tên (identifier) trong Pascal không phân biệt chữ hoa hay chữ thường. Chẳng hạn bạn gõ WRITE hay write Pascal đều coi chúng như nhau. Tuy nhiên người ta thường đặt tên trong Pascal theo cách ngắn gọn, dễ đọc, gợi nhớ (chẳng hạn trong tiếng Anh write có nghĩa là “viết”)…
Cấu trúc của một chương trình Pascal có dạng như sau:
program <tên chương trình>;
<các khai báo>
begin
<nội dung chương trình>
end.Trong đó các khai báo gồm có:
1. khai báo sử dụng unit.
2. khai báo hằng số.
3. khai báo kiểu dữ liệu.
4. khai báo biến
5. khai báo chương trình con.
… (và một số khai báo không phổ biến khác)
Ngoài khai báo unit luôn phải đặt đầu tiên, ngay sau dòng khai báo program, các khai báo còn lại có thể đặt trình tự tuỳ ý, không nhất thiết phải giống như thứ tự ở trên.
Nội dung chương trình là dãy các câu lệnh. Có các 3 câu lệnh sau:
1. lệnh tính toán biểu thức.
2. lệnh gọi chương trình con.
3. cấu trúc điều khiển.
Các câu lệnh trong chương trình khi chạy sẽ được thực hiện theo trình tự từ đầu đến cuối.
Các khai báo và các câu lệnh phân tách nhau bằng dấu ;. Nghĩa là phải gõ ; ở cuối mỗi câu lệnh hay khai báo (ngoại trừ trước từ khoá end và else).
Một chương trình đầy đủ có dạng như sau:
program ...; { tiêu đề chương trình }
uses ...; { khai báo các unit sử dụng}
label ...; { khai báo các nhãn}
const ...; { khai báo các hằng}
type ...; { khai báo các kiểu dữ liệu }
var ...; { khai báo các biến}
procedure ...; { khai báo chương trình: thủ tục}
function ...; { v� hàm}
begin
statement; { dãy các câu lệnh}
...
end.
Ta bắt đầu bằng việc phân tích một chương trình Pascal đơn giản:
1.Program VD_01_01;
2.Begin
3. Write('Xin chao tat ca cac ban.');
4. Readln;
5. {Chờ gõ Enter}
6.End.
Để thử nghiệm chương trình, bạn khởi động môi trường lập trình Turbo Pascal (xin xem tài liệu để biết chi tiết về sử dụng môi trường lập trình Turbo Pascal) rồi soạn thảo, dịch và chạy thử. Bạn chú ý không gõ số số dòng, đó là tác giả thêm vào để tiện giải thích hoạt động của chương trình.
Đây là một chương trình Pascal rất đơn giản, chỉ thực hiện mỗi một việc là in ra màn hình dòng chữ “Xin chào tất cả các bạn” rồi chờ người dùng (user) nhấn Enter. Tuy vậy chúng ta cũng nên phân tích nó:
Dòng 1 của chương khai báo tên của chương trình. Khai báo bắt đầu bằng từ khoá (keyword) Program và theo sau đó là một định danh (còn gọi đơn giản là tên - identifier) dùng để đặt cho chương trình. Chương trình trên được đặt tên là “VD_01_01”.
Khai báo Program thường là không cần thiết nên rất ít khi xuất hiện, bạn có thể bỏ qua trong các chương trình riêng của mình.
Dòng 2 và dòng 6 là 2 từ khoá “Begin End.” khai báo nội dung chương trình.
Dòng 3 là một câu lệnh của chương trình, write là tên chuẩn (tên đã được khai báo sẵn) trong Pascal dùng để đưa thông tin ra thiết bị ngoài. Trong chương trình này câu lệnh có ý nghĩa: viết ra màn hình dòng chữ “Xin chao tat ca cac ban”.
Dòng 4 là câu lệnh tiếp theo của chương trình, nó chỉ làm mỗi việc là chờ người dùng gõ Enter.
Dòng 5 là một dòng chú thích. Chú thích là những văn bản mà lập trình viên (programmer) thêm vào nhằm mục đích giúp người đọc chương trình dễ hiểu hơn. Chẳng hạn trong trường hợp này là giải thích ý nghĩa của dòng lệnh readln ở trên.
Chú thích được đặt giữa cặp ngoặc {} hay giữa cặp (* *). Chú thích giúp chương trình dễ hiểu hơn nhưng không làm tăng kích thước chương trình (vì Turbo Pascal không dịch phần văn bản được đánh dấu là chú thích. Vì thế đôi khi người ta đánh dấu chú thích phần chương trình còn sai để kiểm tra các phần khác mà không cần thiết phải xoá những đoạn chương trình ấy).
Sau quá trình phân tích chúng ta rút ra một số điều sau:
1- Từ khoá Program dùng để khai báo tên chương trình. Khai báo đó không nhất thiết phải có. Nếu có thì tên chương trình phải đặt theo các quy tắc đặt tên.
2- Nội dung chương trình nằm giữa cặp từ khóa Begin End. Chú ý có dấu chấm sau từ End.
3- Đơn vị cấu trúc nên nội dung chương trình là các câu lệnh. Đó có thể là cấu trúc điều khiển, lệnh gọi chương trình con hay lệnh gán trị (chúng ta sẽ nghiên cứu về chúng trong những phần sau). Mỗi lệnh đều kết thúc bằng dấu ;. Chương trình thực hiện các câu lệnh tuần tự từ đầu đến cuối.
3.1- Lệnh write có thể dùng để viết ra màn hình các câu thông báo. Chú ý câu thông báo đặt trong cặp dấu “nháy” trên (' '). Ví dụ 'This is Turbo Pascal'.
3.2- Lệnh readln; (đọc là read-line) sẽ chờ người dùng nhấn Enter rồi mới chạy tiếp.
4- Chú thích có thể thêm vào chương trình giúp chương trình dễ hiểu hơn. Chú thích nằm giữa cặp dấu { } hay giữa (* và *).
5- Tên (identifier) trong Pascal không phân biệt chữ hoa hay chữ thường. Chẳng hạn bạn gõ WRITE hay write Pascal đều coi chúng như nhau. Tuy nhiên người ta thường đặt tên trong Pascal theo cách ngắn gọn, dễ đọc, gợi nhớ (chẳng hạn trong tiếng Anh write có nghĩa là “viết”)…
Cấu trúc của một chương trình Pascal có dạng như sau:
program <tên chương trình>;
<các khai báo>
begin
<nội dung chương trình>
end.Trong đó các khai báo gồm có:
1. khai báo sử dụng unit.
2. khai báo hằng số.
3. khai báo kiểu dữ liệu.
4. khai báo biến
5. khai báo chương trình con.
… (và một số khai báo không phổ biến khác)
Ngoài khai báo unit luôn phải đặt đầu tiên, ngay sau dòng khai báo program, các khai báo còn lại có thể đặt trình tự tuỳ ý, không nhất thiết phải giống như thứ tự ở trên.
Nội dung chương trình là dãy các câu lệnh. Có các 3 câu lệnh sau:
1. lệnh tính toán biểu thức.
2. lệnh gọi chương trình con.
3. cấu trúc điều khiển.
Các câu lệnh trong chương trình khi chạy sẽ được thực hiện theo trình tự từ đầu đến cuối.
Các khai báo và các câu lệnh phân tách nhau bằng dấu ;. Nghĩa là phải gõ ; ở cuối mỗi câu lệnh hay khai báo (ngoại trừ trước từ khoá end và else).
Một chương trình đầy đủ có dạng như sau:
program ...; { tiêu đề chương trình }
uses ...; { khai báo các unit sử dụng}
label ...; { khai báo các nhãn}
const ...; { khai báo các hằng}
type ...; { khai báo các kiểu dữ liệu }
var ...; { khai báo các biến}
procedure ...; { khai báo chương trình: thủ tục}
function ...; { v� hàm}
begin
statement; { dãy các câu lệnh}
...
end.